HomeBài tập

Bài tập nghiên cứu khoa học

Like Tweet Pin it Share Share Email
                TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG CẦU GIẤY       BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC                 Hà Nội, 2018            
    TRƯỜNG KHOA       Mã sinh viên:       TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG CẦU GIẤY       BÀI TẬP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC                                                           Người hướng dẫn khoa học:Giảng viên:         Hà Nội, 2018

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài tập – công trình nghiên cứu khoa học đầu tay này, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Nguyễn Thị Thoan cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương đã hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi hoàn thành bài tập nghiên cứu khoa học: Tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy”.

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương. Đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Thoan đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bài tập nghiên cứu khoa học này.

Xin chân thành cảm ơn các giáo viên, phụ huynh và học sinh lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện bài tập nghiên cứu khoa học này.

Đây là bài tập nghiên cứu khoa học đầu tay, mặc dù tôi đã rất cố gắng xong không thể không có những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến để bài tập nghiên cứu khoa học này ngày càng hoàn thiện hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2018

Sinh viên

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

NCKH: Nghiên cứu khoa học

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu…………………………………………………………………………. 

      CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

I. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1. Các nghiên cứu trong nước về vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em.

2. Các nghiên cứu nước ngoài về vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em.. 

II. Một số vấn đề lý luận của đề tài

1. Khái niệm giáo dục.

2. Khái niệm kỹ năng.

3. Khái niệm kỹ năng sống.

4. Xâm hại tình dục trẻ em.

4.1. Khái niệm.

4.2. Các mức độ xâm hại tình dục trẻ em.

5. Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ mẫu giáo.

5.1. Đặc điểm sinh lý.

5.2. Đặc điểm tâm lý.

6. Kết luận chương 1.

       CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG CẦU GIẤY

7. Khái quát chung về trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

8. Tìm hiểu về thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy

9. Nguyên nhân ……………………………………………………………..

10. Kết luận chương 2 ……………………………………………………….

         CHƯƠNG 3 :  ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG CẦU GIẤY

11. Cơ sở khoa học của các biện pháp đề xuất  giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

12. Các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

13. Kết luận

14. Tài liệu tham khảo

PHẦN MỞ  ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

           “Bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại tình dục” là vấn đề được xã hội rất quan tâm, đặc biệt là các bậc phụ huynh có con đang ở tuổi tới trường, nhất là trẻ mầm non. Bởi ở lứa tuổi này, mức độ phát triển ở trẻ còn hạn chế, những gì trẻ học được, trẻ tích lũy được trong gia đình và sự tác động từ xã hội bên ngoài là rất khác nhau thông qua bạn bè, những người xung quanh trẻ, phim ảnh,…trong nhiều trường hợp trẻ phải tự mình ứng phó và giải quyết các vấn đề mà trẻ gặp phải, mà một trong số những vấn đề gây khó khăn nhất ở trẻ là vấn đề nhận biết và phòng chống xâm hại tình dục.

     Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều trường hợp trẻ mầm non bị xâm hại nhưng không những trẻ mà cả phụ huynh đều chưa am hiểu hoặc chưa có kinh nghiệm để nhận biết và phòng tránh nên đã gây ra những ảnh hưởng, để lại những hậu quả không mong muốn cho trẻ về sau này. Chính vì những thiếu hụt nghiêm trọng các kỹ năng tự bảo vệ do sự hạn chế từ giáo dục trong gia đình và nhà trường, sự phức tạp của xã hội hiện đại là nguyên nhân trực tiếp khiến trẻ gặp khó khăn trong cách ứng xử, xử lý các tình huống, nhất là các tình huống về xâm hại tình dục. Do đó, việc cung cấp các kỹ năng tự nhận biết về hành vi xâm hại tình dục cho trẻ là rất cần thiết để giúp trẻ nhận thức, điều chỉnh các hành vi ứng xử, thái độ của mình cho phù hợp với điều kiện thực tiễn.

          Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại đã được đưa vào nhiệm vụ năm học của Bộ giáo dục và Đào tạo với nội dung cụ thể như sau: Tập trung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ, hình thành ở trẻ các kỹ năng nhận biết và phòng tránh mọi tình huống xấu có thể xảy ra với trẻ. Trong đó, nhà trường là nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ, trẻ được tiếp xúc với rất nhiều đối tượng khác nhau vì vậy trẻ phải được trang bị và giáo dục về những kỹ năng cần thiết giúp  trẻ đương đầu với các tình huống và thử thách của cuộc sống.

          Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy” nhằm tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục phòng chống xâm hại trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non này.

2. Mục đích nghiên cứu

– Làm rõ một số khái niệm, cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.

– Làm rõ thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

– Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể

– Ban giám hiệu trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

– Giáo viên mầm non tại trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

– Phụ huynh của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

– Trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

– Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

4. Phạm vi nghiên cứu

4.1. Nội dung nghiên cứu

– Đề tài chỉ tập trung làm rõ thực trạng kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

4.2. Địa bàn nghiên cứu

      – Các nghiên cứu được triển khai tại các lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

4.3. Độ tuổi của trẻ

      – Trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi): 200 cháu.

5. Nhiệm vụ

– Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, làm rõ các khái niệm liên quan là cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn.

– Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy thông qua các hoạt động nghiên cứu, phỏng vấn, điều tra, trò chuyện.

– Phân tích thực trạng từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Hồng Cầu Giấy.

6. Phương pháp luận nghiên cứu

6.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

          Là phương pháp thu thập thông tin bằng hệ thống các câu hỏi được sắp đặt trên cơ sở các nguyên tắc: tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiên cứu.

          Phiếu điều tra dành cho: ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh học sinh.

6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

          Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để bổ sung các thông tin định tính cho hệ thống các thông tin định lượng qua bảng hỏi. Các vấn đề trực tiếp thu nhận trong bảng hỏi sẽ được đưa vào trong các cuộc phỏng vấn sâu. Thông qua hai hình thức chủ yếu là phỏng vấn sâu có cấu trúc và bán cấu trúc được kết hợp một cách chặt chẽ nhằm tìm kiếm và khai thác thông tin cho đề tài nghiên cứu.

          Phỏng vấn sâu đối với: ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh học sinh.

6.3. Phương pháp quan sát

          Là phương pháp thu thập thông tin quan trọng được sử dụng suốt quá trình nghiên cứu, được thực hiện qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn khảo sát, thu thập thông tin đến tiến hành hỗ trợ và kết thúc. Mục đích của phương pháp này nhằm thấy được thực tiễn việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em.

6.4. Phương pháp xử lý số liệu

          Công tác nghiên cứu đòi hỏi phải điều tra số liệu thực tế tại thời điểm nhằm điều tra rõ, chính xác nhất về vấn đề. Trên cơ sở kết quả của việc điều tra bẳng hỏi, người nghiên cứu thực hiện các kỹ năng như làm sạch phiếu hỏi, tổng hợp, mã hóa và xử lý số liệu.

6.5. Phương pháp phân tích tài liệu

          Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Người nghiên cứu tiến hành thu thập các tài liệu văn bản cần thiết từ các sở, ban, ngành, các nguồn tin cậy và phù hợp với đối tượng cũng như vấn đề nghiên cứu, tiến hành xem xét các thông tin có sẵn trong tài liệu để có cái nhìn tổng quan về vấn đề. Các thông tin thu thập, sử dụng một cách có chọn lọc và sáng tạo.

8. Dự kiến đóng góp ý kiến mới của đề tài

9. Bố cục khóa luận

          Cấu trúc đề tài gồm 2 phần chính: Phần mở đầu và phần nội dung. Ngoài phần mở đầu ra, trong phần nội dung gồm có 3 chương:

          Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.

          Chương 2: Thực trạng.

          Chương 3: Kết luận và kiến nghị.

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

I. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1. Các nghiên cứu nước ngoài về vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em

          Có thể nói chưa bao giờ mà vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em lại trở nên nhức nhối và gây bức xúc dư luận như trong thời gian gần đây. Hàng loạt vụ việc tấn công tình dục bị phanh phui, kéo theo nỗi lo lắng đến tột độ trong lòng mỗi bậc phụ huynh có con nhỏ. Trên thực tế, không chỉ tại Việt Nam, ở rất nhiều các quốc gia khác trên thế giới như Mỹ, Anh hay Ấn Độ…, “dịch bệnh âm thầm” này đã len lỏi vào cuộc sống và gây nên nỗi ám ảnh khôn nguôi cho nhiều gia đình.

          Tác giả Grandy Ron’’O, chuyên gia của tổ chức ECPAT – một tổ chức hoạt động vì mục tiêu chống nạn lạm dụng tình dục ở trẻ em vào những năm 1990 tại Thái Lan, đã viết trong cuốn sách “Lạm dụng tình dục ở Trẻ em – nỗi phẫn nộ của cộng đồng/ The rape of  innocent”: Có một cái gì đó rất nghiêm trọng đang xảy ra trong xã hội châu Á. Và điều nghiêm trọng ấy chính là nạn lạm dụng tình dục trẻ em. Cuốn sách của Grandy Ron’’O là bức tranh miêu tả sắc nét thực tế đáng sợ mà tất cả chúng ta buộc phải thừa nhận, hàng nghìn trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái trên khắp châu Á đang trở thành nạn nhân của vấn nạn “lạm dụng tình dục”. Hầu hết các câu chuyện của Grandy Ron’’O đều là những câu chuyện có thật về những đứa trẻ, từ Mianma tới Thái Lan, từ Ấn Độ sang đến Pakistan, Bangladesh, …trong các nhà chứa ấy đều có trẻ em đang bị ép buộc bán dâm. Trẻ em bị lạm dụng tình dục hầu như không có cơ hội để trở về cuộc sống bình thường như bao trẻ em khác. Cuốn sách của Grandy Ron’’O còn gửi tới chúng ta một thông điệp đáng trân trọng đó là : “Hãy cứu lấy những đứa trẻ này vì trẻ em là tất cả của chúng ta”.( khóa luận tốt nghiệp của sv Trần Thị Thanh Trà” trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2- trên trang web www.text.xemtailieu.com )

          Năm 2002, nhóm tác giả người Mỹ: Ellen J Hahn, Urelody Power Noland, MaryKay Rayens, Dawn Myers Christie đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về kỹ năng sống và chỉ ra hiệu quả của giáo dục và độ tin cậy của việc thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống. Tuy nhiên, chương trình mới chỉ dừng lại ở góc độ giáo dục và đánh giá chương trình giáo dục kỹ năng sống chứ chưa có đánh giá về mức độ của từng kỹ năng cụ thể ( khóa luận tốt nghiệp của sv Trần Thị Thanh Trà” trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2- trên trang web www.text.xemtailieu.com )

          Để góp phần nhỏ bé vào cuộc chiến chống lại vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em, vào cuối năm 2016, cô Jill Tolles, giảng viên Đại học Nevada, thành viên của Trường Tư pháp quốc gia và cũng là một nhà hoạt động bảo vệ quyền trẻ em tại Mỹ, đã có bài thuyết trình đầy nhiệt huyết trên diễn đàn TED nổi tiếng thế giới. Không chỉ là những lời kêu gọi sáo rỗng, khuôn mẫu, bài phát biểu của cô Jill Tolles khiến bất cứ ai cũng phải thức tỉnh trước câu chuyện có thật khi bản thân nữ giảng viên cũng từng là nạn nhân bị xâm hại tình dục khi mới lên 6 tuổi. Trong bài phát biểu của mình, giảng viên Jill Tolles đã khiến nhiều người bàng hoàng khi trích dẫn số liệu đáng báo động về vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em. (trang youtube mang tựa đề “ Bài thuyết trình nữ giảng viên từng bị xâm hại tình dục của chính Jill Tolles ).

Theo ước tính của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), cứ 4 bé gái thì có 1 bé và cứ 6 bé trai thì có 1 bé sẽ bị lạm dụng trước 18 tuổi. Đáng chú ý, sau 8 tháng nghiên cứu về vấn nạn lạm dụng tình dục trẻ em, cô Jill Tolles biết được rằng có tới 93% trẻ quen biết với chính kẻ lạm dụng mình, và thường đó chính là bạn bè hoặc người thân của gia đình. Vậy nhưng, cũng có tới 90% trẻ không kể với ai, và con số này thậm chí còn cao hơn ở các bé trai bởi vì vẫn có sự kỳ thị rằng chuyện đó sẽ không xảy ra với các bé trai, hoặc chỉ có đàn ông mới có thể là kẻ lạm dụng (trang web www.tuoitre.vn  đăng tải ngày 14/1/2017).

Bên cạnh đó, có một số thông tin khá tích cực cho trẻ như:

Ở Vương Quốc Anh: Trẻ em bắt đầu được giáo dục giới tính khi còn mầm non: Pháp luật Anh quy định rất rõ rằng trẻ khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu học về giới tính một cách bắt buộc. Ngoài ra, Vương quốc Anh còn đang áp dụng phương pháp “giáo dục đồng cấp”. Thông qua sự phát triển của việc giáo dục giới tính vị thành niên và việc sử dụng hình ảnh tương tác, phương pháp này được áp dụng nhằm hạn chế tệ nạn và tình trạng xâm phạm tình dục ở vị thành niên (trang web www.kenh14.vn > Học đường đăng tải ngày 15/3/2018)

Ở Malaysia: Trẻ em sẽ học giới tính từ khi lên 4: Malaysia là một trong những quốc gia tiên phong tại khu vực Đông Nam Á về công tác phổ cập giáo dục giới tính cho trẻ em. Tương tự như Anh, Chính phủ Malaysia khuyến cáo trẻ em nên được giáo dục giới tính từ năm 4 tuổi. Chương trình học của các bé sẽ do Bộ Phát triển Phụ nữ, Gia đình và Cộng đồng, Bộ Giáo dục, những chuyên gia và các tổ chức phi chính phủ biên soạn. (trang web www.kenh14.vn > Học đường đăng tải ngày 15/3/2018)

2. Các nghiên cứu trong nước về vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em

          Theo Bác sĩ Nguyễn Trọng An – Nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Từ trước đến nay, nước ta hay dùng từ “lạm dụng tình dục”. Tuy nhiên, ở Việt Nam nghĩa của từ “lạm dụng” không sát nghĩa với khái niệm của quốc tế sử dụng cho nên sau này đã có đổi thành “xâm phạm tình dục”. Trong quá trình sử dụng, cụm từ này tiếp tục không phù hợp cho nên sau khi Quốc hội quyết định thay đổi thì cụm từ “xâm hại tình dục” được sử dụng từ năm 2010 đến nay.

          “Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục”-  năm 2005, một nghiên cứu của TS. Dương Tuyết Miên, giảng viên khoa Luật Hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội được đăng tải trên Đặc san về Bình đẳng giới, tạp chí Luật học. Trong bài viết, tác giả đã đi sâu vào phân tích những tổn hại về mặt tinh thần mà nạn nhân của tội hiếp dâm gặp phải. Ngoài sự đau đớn về thể xác, nguy cơ lây nhiễm về các bệnh tình dục, HIV/AIDS,…nạn nhân của tội hiếp dâm còn bị chấn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần mà shock chỉ là một phần trong số ít các biểu hiện. Tác giả có trích dẫn những kết quả nghiên cứu của Patricia A Resick, sau khi bị hiếp dâm có 96% nạn nhân rơi vào trạng thái hoảng sợ, lo lắng và hay giật mình; 92% rơi vào trạng thái sợ hãi, có những rối loạn tâm lý, có vấn đề trong điều chỉnh hành vi xã hội và hậu quả để lại là không thể phủ nhận, đặc biệt với những bé gái bị chính người thân trong gia đình xâm hại.(tr30-35-37 của bài viết được đăng tải trên tạp chí “Đặc sản về bình đẳng giới” xuất bản năm 2005 được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Hà Nội).

          Với đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta thời kỳ 2000-2010”, các chuyên gia của Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã đưa ra những nhận định, đánh giá và quan điểm của mình về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn trong nước để từ đó xây dựng một chiến lược chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục thời kỳ 2000 – 2010. Bằng cách phác họa vắn tắt thực trạng công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục ở nước ta hiện nay cũng như thực trạng tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục, các chuyên gia đã đề xuất một chiến lược tổng hợp với mục tiêu tổng quát: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cơ quan, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, trong mỗi gia đình và toàn thể xã hội để ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục”(khóa luận tốt nghiệp của sv Trần Thị Thanh Trà” trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2- trên trang web www.text.xemtailieu.com )

          Sách “Cẩm nang phòng tránh xâm hại cho con – Cha mẹ cần biết trước khi quá muộn” chủ yếu được biên soạn bởi Tiến sĩ Phạm Thị Thúy. Sách cung cấp những hiểu biết cơ bản về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em, cách dạy trẻ phòng chống xâm hại tình dục, những việc cần làm khi thấy trẻ có dấu hiệu bị xâm hại tình dục, tâm sự của những người từng bị xâm hại tình dục. Ngoài ra, còn có phần dành cho trẻ em với tựa “Những bảo bối của Hiệp sĩ TANI – Trẻ em bảo vệ trẻ em” do Trần Lê Thảo Nhi và Đào Thị Thúy cùng tham gia thực hiện cuốn sách này. Nội dung chính của cuốn sách giới thiệu những kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục dành cho bé – với những câu thơ để thuộc, dễ nhớ, nhiều câu chuyện thoát hiểm thiết thực và tranh minh họa sinh động. (Thông tin cuốn sách được đăng tải trên rất nhiều trang web như: www.gioithieusachmoi.com, www.minhkhai.com.vn/store2, www.dantri.com.vn, ….)

          Chương trình “Bạn hữu trẻ em” được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình hợp tác quốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2010-2016. Đây là chương trình kết hợp các chương trình giáo dục, phát triển và sống còn của trẻ em, bảo vệ trẻ em và chính sách xã hội của UNICEF hỗ trợ cung cấp các dịch vụ lồng ghép cho trẻ em ở Đồng Tháp, Kon Tum, Ninh Thuận, Điện Biên, An Giang và thành phố Hồ Chí Minh, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, “Kỹ năng từ chối – nói không” với những cám dỗ trong cuộc sống, trang bị cho trẻ những kỹ năng tự bảo vệ mình trước những nguy cơ như ma túy, lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động. (trích bài viết có tựa đề “1,5 triệu USD để gia tăng thực hiện quyền trẻ em” được đăng tải trên trang web www.meyeucon.org ngày 12/5/2010)

          Bài viết “Giáo dục kỹ năng phòng tránh xâm hại cho trẻ: Đừng để quá muộn” của tác giả Nguyên Minh đã nêu lên thực trạng giáo dục kỹ năng này cho trẻ em. Bài viết đã chỉ ra sự chủ quan của bố mẹ trong việc giáo dục trước tình trạng trẻ em bị xâm hại liên tiếp trong thời gian vừa qua và đưa ra ý kiến trước khi chờ Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra các chương trình đào tạo kỹ năng vào trong các trường mầm non thì mỗi nhà trường cũng như các bậc phụ huynh cần phải tự tìm kiếm các chương trình đào tạo kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục để hướng dẫn, giúp đỡ các em. (thông tin bài viết được đăng tải trên trang web www.vietnammoi.com ngày 22/3/2017).

          Trên trang báo mạng Vietnamnet.vn có đưa ra bài viết “8 kỹ năng cơ bản tự bảo vệ bản thân bố mẹ dạy con càng sớm càng tốt”. Bài viết nêu lên 8 kỹ năng mà bố mẹ cần dạy trẻ ngay từ khi còn nhỏ như: không ai được chạm vào vùng kín trên cơ thể bé, tuyệt đối không đi theo người lạ, không đi theo người lạ, không được nhận bất cứ thứ gì từ người lạ, ứng xử khi lạc bố mẹ,… Ngoài việc nói lên tầm quan trọng của việc dạy những kỹ năng này cho trẻ từ sớm thì tác giả còn nêu ra mục đích và cách thức dạy trẻ của bố mẹ với từng kỹ năng khác nhau để từ đó trẻ có thể tiếp thu dễ dàng hơn. (thông tin bài viết được đăng tải trên trang web www.vietnamnet.com ngày 13/4/2016)

          Tác giả Thái Bình trong bài viết “Hơn 1000 trẻ bị xâm hại tình dục mỗi năm” – 2017 đã chia sẻ những thống kê số trẻ em bị xâm hại tình dục trong 5 năm (2012 – 2016) ở Việt Nam. Trong bài viết, mới chỉ đề cập đến thống kê số trẻ em bị xâm hại tình dục và thực tế xử lý tội phạm xâm hại tình dục còn gặp nhiều khó khăn. (thông tin bài viết được đăng tải trên trang web www.vietbao.com ngày 27/3/2017)

          Theo số liệu công bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trong 5 năm (2011-2015), cả nước phát hiện trên 8200 vụ xâm hại trẻ em, với gần 10.000 nạn nhân, tăng 258 nạn nhân so với 5 năm trước đó. Số vụ xâm hại tình dục chiếm tới 5300 vụ (khoảng 65%) và gia tăng xâm hại tình dục (tr23- Cuốn “Truyền thông phòng chống xâm hại tình dục và các tệ nạn xã hội trong nhà trường” của nhà xuất bản Lao động-Xã hội được lưu trữ tại Thư viện quốc gia).

Mỗi năm, có khoảng 2.000 trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại được phát hiện và xử lý. Trung tướng Đỗ Kim Tuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát cho rằng: “6 tháng đầu năm 2017 đã có gần một nghìn trẻ em bị xâm hại; trong đó 70% nạn nhân trẻ em bị xâm hại tình dục. Tuy nhiên, so với thực trạng, tôi nhận thấy con số này vẫn chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em hiện nay. (trang web www.baomoi.com  đăng tải ngày 28/7/2017 tựa đề “Những số liệu báo động về xâm hại tình dục trẻ em”)

Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự, Tổng Cục cảnh sát từ năm 2014 – 2016, toàn quốc phát hiện 4.147 vụ xâm hại tình dục trẻ em, với 4.320 đối tượng gây án, xâm hại 4.140 em, cụ thể: (trang web baomoi.com đăng tải ngày 28/7/2017 tựa đề “Những số liệu báo động về xâm hại tình dục trẻ em”)

– Hiếp dâm trẻ em: 1.495 vụ/1.615 đối tượng/xâm hại 1.479 nạn nhân.

– Cưỡng dâm trẻ em: 22 vụ/22 đối tượng/xâm hại 596 nạn nhân.

– Dâm ô với trẻ em: 556 vụ/565 đối tượng/xâm hại 596 nạn nhân.

– Giao cấu với trẻ em: 2.074 vụ/2.118 đối tượng/xâm hại 2.052 nạn nhân.

– Nạn nhân bị xâm hại chủ yếu là trẻ em gái (chiếm trên 80%). Trong đó dưới 6 tuổi chiếm 278 em, từ 6 dến dưới 13 tuổi chiếm 1.333 em; từ 13 dến dưới 16 tuổi chiếm 2538 em; số trẻ em bị xâm hại tình dục nhiều lần chiếm 28,2%; trẻ em bỏ học, sống lang thang, bị xâm hại tình dục chiếm 11,6%.

– Qua khảo sát từ năm 2014 đến năm 2016 tại 15 tỉnh, thành phố địa bàn trọng điểm như: TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau phát hiện 999 vụ xâm hại tình dục trẻ em với 1.003 đối tượng. Số tuổi trẻ em từ 10 – 16 tuổi.

– Riêng 6 tháng đầu năm 2017, toàn quốc phát hiện 805 vụ xâm hại trẻ em/881 đối tượng/832 nạn nhân. Trong đó, xâm hại tình dục trẻ em: 696 vụ/716 đối tượng/710 nạn nhân. các tỉnh, thành phía Nam chiếm gần 30% so với tổng số vụ xâm hại tình dục trẻ em của cả nước.

– Trong 6 tháng đầu năm 2018, có 790 trẻ em bị bạo lực, xâm hại, trong đó 605 em bị xâm hại tình dục, chiếm 76,6%.

– Phần lớn, các vụ xâm hại tình dục trẻ em phát hiện được là do quần chúng, gia đình và nạn nhân đến tố cáo. Ngành Công an phát hiện được bằng nghiệp vụ chỉ chiếm 6%.

KẾT LUẬN: Qua những nghiên cứu trên cho thấy, còn có sự thiếu hụt những nghiên cứu về mảng đề tài giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho trẻ em. Mỗi một bài báo, một nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh về vấn đề thực trạng xâm hại tình dục ở trẻ em nói chung, chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1. Khái niệm giáo dục

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa “Giáo dục”( trên trang web www.tratu.soha.vn) :

+ Động từ: Là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.

+ Danh từ: Là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy-giáo dục của một nước.

Theo từ điển tiếng Anh, “Giáo dục” –“Education” –vốn có gốc từ tiếng La-tinh “Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra”. Có thể hiểu giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục. (trang web www.vi.wikipedia.org/wiki )

Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó. Ngoài ra, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “Giáo dục” (trên trang web www.dankinhte.vn tựa đề “Giáo dục là gì?”):

– Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. 

– Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách. Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục.

– Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động.

– Giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội. Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại. Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội.

Kết luận: “Giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội.

2. Khái niệm kỹ năng

    Theo từ điển Wiktionary tiếng Việt định nghĩa: “Kỹ năng là một loại tài năng gì đó đặc biệt, là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn”. (trang web www.vi.wiktionary.org/wiki )

    Theo từ điển Wikipedia tiếng Việt định nghĩa: “Kỹ năng là khả năng của con người trong việc vận dụng kiến thức để thực hiện một nhiệm vụ nghề nghiệp mang tính kỹ thuật, giải quyết vấn đề tổ chức, quản lý và giao tiếp”. (trang web www.vi.wikipedia.org/wiki )

          Theo L. Đ. Levitov nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”. (đăng tải trên trang web www.khoaluantotnghiep.com ngày 15/8/2017)

          Theo A.G.Covaliop: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động”. (thuộc chương 5: Kỹ năng giao tiếp được đăng tải trên trang web www.khoaluan.vn )

          Theo A.V.Petrovxki: “Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, những kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức, hành động tương ứng với mục đích đề ra”. (thuộc chương 5: Kỹ năng giao tiếp được đăng tải trên trang web www.khoaluan.vn )

Theo Bùi Văn Huệ: “Kỹ năng  là khả năng vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật vào thực tiễn”. (thuộc chương 5: Kỹ năng giao tiếp được đăng tải trên trang web www.khoaluan.vn )

          Theo Lưu Xuân Mới: “Kỹ năng là sự biểu hiện kết quả hành động trên cơ sở kiến thức đã có. Kỹ năng là tri thức trong hành động”. (thuộc chương 5: Kỹ năng giao tiếp được đăng tải trên trang web www.khoaluan.vn )

          Theo tác giả Thái Duy Nguyên: “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động”. (đăng tải trên trang web www.khoaluantotnghiep.com ngày 15/8/2017)

          Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” (đăng tải trên trang web www.khoaluantotnghiep.com ngày 15/8/2017)

          Theo tác giả Đặng Thành Hưng: “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học – tâm lý khác nhau của cá nhân (chủ thể của kỹ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định”. (đăng tải trên trang web www.tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki với tựa đề “Một số khái niệm/kỹ năng” ngày 13/12/2018)

          Theo cẩm nang giáo dục: “Kỹ năng là khả năng thực hiện nhuần nhuyễn một hay nhiều hành động dựa trên sự hiểu biết, kiến thức hoặc kinh nghiệm đã có để tạo ra kết quả mong đợi”. (đăng tải trên trang web www.camnanggiaoduc.com với tựa đề “Kỹ năng là gì và kỹ năng sống là gì? 6 loại kỹ năng cần phát triển” ngày 5/10/2018)

Kết luận: Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách chung nhất về khái niệm kỹ năng: “Kỹ năng”  là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra.

3.Khái niệm kỹ năng sống (Hướng dẫn và rèn luyện Kỹ năng sống cho trẻ mầm non – Trương Thị Hoa Bích Dung do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội xuất bản ngày 22/3/2012 được lưu trữ tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương). (tr11, 12, 13)

Kỹ năng sống là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa  tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Ngay những năm đầu thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như UNESCO (Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc ), WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục Kỹ năng sống cho trẻ. Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ:

Theo từ điển Wikipedia: Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Theo UNESCO – Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc quan niệm: Kỹ năng sống được hiểu là năng lực thực hiện đầy đủ các kỹ năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày. Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hằng ngày. Kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột giáo dục: Học để biết – học để làm – học để khẳng định mình – học để chung sống hòa bình.

Theo WHO – Tổ chức Y tế thế giới: Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này. ( tr81 “Giáo dục giá trị sống và  kỹ năng sống cho trẻ mầm non – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS. Đinh Thị Kim Thoa, ThS. Phan Thị Thảo Hương):

Theo UNICEF – Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc: Kỹ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống. Các kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng.

Kết luận: Khái niệm “kỹ năng sống” được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia. Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái niệm kỹ năng sống của UNESCO để triển khai các hoạt động phát triển kỹ năng sống cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là trẻ mầm non lứa tuổi mẫu giáo lớn. Điều này được lý giải bởi 2 lý do: Thứ nhất, nếu hiểu kỹ năng sống theo nghĩa hẹp là đồng nhất kỹ năng sống với năng lực tâm lý xã hội do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của kỹ năng sống. Năng lực tâm lý xã hội đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó. Nhưng điều cần lưu ý là con người không chỉ cần năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống, mà con người cần phải biết thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực. Thứ hai, khái niệm kỹ năng sống theo nghĩa rộng đã bao hàm trong nó năng lực tâm lý xã hội với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung trong việc hỗ trợ cho sức khỏe thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với những người khác trong xã hội. Bên cạnh đó, theo nghĩa rộng, khái niệm kỹ năng sống còn đề cập đến khả năng con người quản lý được các tình huống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến mọi người trong việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro. Đây chính là khả năng con người quản lý một cách thích hợp bản thân, người khác và xã hội trong cuộc sống  hàng ngày.

4. Xâm hại tình dục trẻ em

3.1. Khái niệm

          Theo WHO – Tổ chức Y tế thế giới: Xâm hại tình dục trẻ em là sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đưa ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mỹ tục của xã hội (trang facebook.com > permalink“STOP CHILD ABUSE” chia sẻ ngày 14/1/2018)

Căn cứ vào pháp lý “Điều 4-Luật trẻ em năm 2016”  của nước CHXHCN Việt Nam nêu rằng: Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (Luật trẻ em do Quốc hội ban hành số 102/2016/QH13 ngày 5/4/2016 được đăng tải trên trang web nganhangphapluat.thukyluat).

Nói về khái niệm “xâm hại tình dục”, ông Trần Thành Nam – Tiến sĩ Tâm lý học trẻ em và vị thành niên cho biết: Xâm hại tình dục trẻ em là tất cả các hành vi dụ dỗ, xúi bẩy, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện một số hành vi mang tính chất tính dục không phù hợp với lứa tuổi của các em. Hành vi nhìn chỗ kín (thị dâm), nói chuyện về vấn đề liên quan đến hoạt động tình dục, bộ phận sinh dục (khẩu dâm), nghe, động chạm, ôm đều có thể được xem là xâm hại tình dục. Khái niệm “xâm hại tình dục” được hiểu rất rộng chứ không chỉ là hành vi quan hệ tình dục như nhiều người vẫn nghĩ. (trích dẫn từ bài viết có tựa đề “Xâm hại tình dục trẻ em: Những điều bố mẹ đang lầm tưởng” của tác giả Huyên Nguyễn được đăng tải trên trang web www.laodong.vn  ngày 3/7/2016)

Theo Bác sĩ Nguyễn Trọng An – Nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ và chăm sóc trẻ em: “Xâm hại tình dục” nhằm nói lên một số hiện tượng từ nhìn, sờ mó vào các chỗ kín của trẻ, rồi đến các việc dụ dỗ, cho trẻ xem phim khiêu dâm, dụ dỗ trẻ không mặc quần áo và cuối cùng là dâm ô, giao cấu, hiếp dâm với trẻ. Tất cả các hình thức đó được định nghĩa là xâm hại tình dục trẻ em. (trích dẫn từ bài viết có tựa đề “Xâm hại tình dục trẻ em: Những điều bố mẹ đang lầm tưởng” của tác giả Huyên Nguyễn được đăng tải trên trang web www.laodong.vn  ngày 3/7/2016)

          Theo Bác sĩ Trà Anh Duy – Bệnh viện Bình Dân: Xâm hại tình dục trẻ em là quá trình trong đó một người trưởng thành lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục (trang web tuoitre.vn ngày 14/1/2017 với tựa đề “Hành vi xâm hại tình dục trẻ em là gi?”).

Kết luận: Tuy vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào nói về xâm hại tình dục, nhưng dựa vào các quy định của pháp luật hình sự của Việt Nam và định nghĩa của tổ chức WHO, ta có thể hiểu sơ lược khái niệm xâm hại tình dục trẻ em như sau: “Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi có chủ ý để làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu tình dục của một người đối với trẻ em, đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội. Hành vi xâm hại tình dục trẻ em bao gồm các hành vi khác nhau (hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em)”.

3.2. Các mức độ xâm hại tình dục trẻ em

          Theo Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNFPA) vừa dịch và đăng tải clip với nội dung “Làm thế nào để bảo vệ các con của mình không bị xâm hại tình dục?” cảnh báo phụ huynh về 5 mối nguy hiểm trẻ dễ gặp phải hay được hiểu theo cách khác đó là 5 cảnh báo về các mức độ xâm hại tình dục ở trẻ được đăng tải trên trang web www.thptlocphat.edu.vn ngày 1/4/2016  đó là:

– Báo động “Nhìn”: Khi có người nhìn vào vùng kín của trẻ, hoặc bắt trẻ nhìn vào vùng kín của họ.

– Báo động “Nói”: Nói chuyện về vùng kín với trẻ.

– Báo động “Chạm”: Khi ai đó sờ vào vùng kín của trẻ, hoặc dụ dỗ trẻ sờ vào vùng kín của người đó.

– Báo động “Bắt cóc”: Đưa trẻ đến khu vực vắng mà không có sự cho phép của cha mẹ.

– Báo động “Ôm”: Ôm trẻ theo cách không đứng đắn.

           Qua đây, các bậc phụ huynh có thêm kiến thức để trang bị cho trẻ về những mức độ xâm hại, giúp trẻ nhận biết và phòng tránh những ảnh hưởng xấu có thể gây hại đến tinh thần cũng như thân thể trẻ.

4. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn

4.1. Đặc điểm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn ( Đặc điểm giải phẫu sinh lý trẻ em (in lần thứ 5) của nhóm tác giả Phan Thị Ngọc Yến – Trần Minh Kỳ – Nguyễn Thị Dung do Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội xuất bản ngày 19/6/2009 được lưu trữ tại thư viện trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương).

          Cơ thể trẻ em nói chung và từng cơ quan nói riêng không hoàn toàn giống người trưởng thành.

          Cơ thể trẻ em không phải là cơ thể người lớn thu nhỏ lại theo một tỷ lệ nhất định.

          Giữa cơ thể trẻ em và người lớn có nhiều điểm khác nhau: khác nhau về kích thước, về cân nặng, về cấu trúc và về chức năng hoạt động.

          Sự hoạt động của cơ thể trẻ cũng như người lớn không phải là gồm những hoạt động riêng lẻ của từng hệ cơ quan mà các cơ quan trong cơ thể đều hoạt động thống nhất trong một hệ thống hoàn chỉnh.

4.1.1. Giới thiệu chung về cơ thể trẻ (tr15, 16)

          Trẻ ở thời kì này còn gọi là thời kì răng sữa, ở thời kì này, trẻ lớn chậm hơn thời kì bú mẹ. Trẻ càng lớn tốc độ tăng cân và chiều cao giảm dần. Trung bình mỗi năm tăng thêm 1,5 kg cân nặng và 5 cm chiều cao.

          Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần dần hoàn thiện, đặc biệt là chức năng vận động, phối hợp động tác, cơ lực phát triển nhanh. Từ những động tác còn vụng về, chậm chạp trẻ đã làm được những động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, làm được những công việc tương đối khó, phức tạp, có thể làm được một số việc tự phục vụ mình như rửa tay, rửa mặt, tự xúc cơm, đi tất, mặc quần áo, cuối tuổi mẫu giáo có thể cầm bút tập viết, tập vẽ,…

          Hệ thần kinh tương đối phát triển: hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức phận phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh. Hệ thống ngôn ngữ phát triển, trẻ nói được câu dài, vốn từ ngày càng phong phú. Trẻ 5-6 tuổi tích lũy từ 2000-4000 từ, sự phát triển vốn từ là điều kiện để trẻ tiếp thu giáo dục tốt. Trẻ tiếp xúc rộng rãi hơn, thích tò mò, ham tìm hiểu môi trường xung quanh, thích tập thể, bạn bè. Vì vậy trong giai đoạn này tất cả những tác dụng tốt hay xấu của môi trường xung quanh rất dễ ảnh hưởng tới trẻ.

4.1.2. Sự phát triển thể chất ở trẻ em (tr20, 22, 23, 24, 25,31)

a. Sự phát triển về chiều cao

          Trẻ trên 1 tuổi, chiều cao tăng vẫn nhanh, chậm hơn giai đoạn dưới 1 tuổi. Trẻ càng lớn tốc độ tăng càng chậm. Theo hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975:

– Chiều cao của trẻ năm thứ hai tăng thêm 8-9 cm.

– Chiều cao của trẻ năm thứ ba tăng thêm 7-8 cm.

– Chiều cao của trẻ năm thứ tư tăng thêm 6-7 cm.

– Chiều cao của trẻ năm thứ năm tăng thêm 4-5 cm.

Chiều cao của trẻ treeb 1 tuổi có thể tính gần đúng bằng công thức:

h = 75 cm + 5 cm (N-1)

Trong đó  h: Chiều cao tính bằng cm.

               75: Chiều cao của trẻ lúc 1 tuổi (quy ước).

                 5: Chiều cao tăng thêm trung bình 1 năm.

                N: Số tuổi.

          Như vậy, chiều cao của trẻ 5-6 tuổi áp dụng từ công thức trên sẽ rơi vào khoảng từ 95-100 cm.

b. Sự phát triển cân nặng

          Trung bình mỗi năm cân nặng trẻ tăng thêm 1,5 kg và đến khi dậy thì thì cân nặng tăng nhanh hơn, có thể tăng 3-4 kg mỗi năm. Dựa vào số liệu cân nặng của trẻ em ở “Hằng số sinh học người Việt Nam năm 1975” có thể tính gần đúng cân nặng của trẻ em dưới 14 tuổi theo công thức sau:

P (kg) = 9kg + 1,5kg (N-1)

Trong đó P: Cân nặng tính bằng kg.

               9kg: Cân nặng của trẻ lúc 1 tuổi.

               1,5kg: Cân nặng tăng thêm trung bình mỗi năm.

               N: Số tuổi tính theo năm.

          Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Trẻ em trước tuổi học năm 1990 tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Hưng, Long An cũng phù hợp với kết quả trên. Cụ thể như sau:

– Trẻ năm thứ 2 tăng thêm 1,8kg.

– Trẻ năm thứ 3 tăng thêm 1,66kg.

– Trẻ năm thứ 4 tăng thêm 1,23kg.

– Trẻ năm thứ 5 tăng thêm 1,4kg.

– Trẻ năm thứ 6 tăng thêm 1,10kg.     

c. Sự phát triển vòng đầu, vòng ngực.

* Vòng đầu:

          Vòng đầu của trẻ phát triển nhiều nhất trong năm đầu tiên, khi mới sinh đầu tương đối to so với kích thước cơ thể, sau năm đầu tiên vòng đầu tăng thêm 12-14 cm. Từ năm thứ hai vòng đầu tăng lên chậm, sự tăng thêm kích thước của đầu phụ thuộc vào sự phát triển khối lượng của não. Vòng đầu trung bình của trẻ Việt Nam theo “Hằng số sinh học người Việt Nam – 1975” thay đổi như sau:

Trẻ sơ sinh 32 cm
Trẻ 1 tuổi 46 cm
Trẻ 2 tuổi 48 cm
Trẻ 3 tuổi 49 cm
Trẻ 7 tuổi 51 cm
Trẻ 12 tuổi 52 cm

*Vòng ngực:

          Từ 2-6 tuổi, vòng ngực lớn hơn vòng đầu 2 cm. Từ 7 tuổi trở lên, hệ cơ phát triển rất mạnh, do ảnh hưởng của vận động và luyện tập, vòng ngực lớn hơn vượt xa vòng đầu.

Vòng đầu và vòng ngực của trẻ em trai

(Theo bảng số sinh học người Việt Nam – 1975)

Lứa tuổi Vòng đầu (cm) Vòng ngực (cm)
Sơ sinh 31.33 ± 1,07 31.84 ± 1,41
6 tháng 44.05 ± 1.54 44.55 ± 2,45
1 tuổi 46.60 ± 1.56 45.98 ± 1,61
2 tuổi 48.66 ± 1.41 48.87 ± 1,65
3 tuổi 49.23 ± 1.39 51.00 ± 2,01
4 tuổi 49.37 ± 1,41 51.46 ± 1,94
5 tuổi 49.44 ± 1,45 51.70 ± 1,99
6 tuổi 49.67 ± 2,40 51.96 ± 2,01
10 tuổi 52.02 ± 1,72 58.78 ± 2,51

d. Tỉ lệ giữa các phần cơ thể

          Sự phát triển không ngừng của trẻ trước hết làm thay đổi kích thước, hình thể. Sự cân đối của hình thể phụ thuộc vào tỷ lệ các phần của cơ thể, ở mỗi lứa tuổi có tỷ lệ khác nhau.

*Chiều cao của đầu so với chiều cao của cơ thể

– Chiều cao đầu của:

          Trẻ sơ sinh bằng 1/4 chiều cao toàn thân.

          Trẻ 2 tuổi bằng 1/5 chiều cao toàn thân.

          Trẻ 6 tuổi bằng 1/6 chiều cao toàn thân.

*Chiều cao của thân

          So với người lớn, chiều cao của thân trẻ em tương đối dài hơn so với chiều cao toàn thân. Trẻ sơ sinh chiều cao của thân bằng 45% chiều cao cơ thể, đến tuổi của thân chỉ còn 38% chiều cao toàn cơ thể.

          Nghiên cứu tỉ lệ chiều cao ngồi so với chiều cao đứng ở trẻ em Việt Nam thấy trẻ càng lớn tỉ lệ này càng nhỏ, có nghĩa là trẻ càng lớn thì phần thân càng ngắn dần so với chiều cao đứng và chân của trẻ dài ra so với chiều cao cơ thể.

e. Sự phát triển tâm vận động của trẻ giai đoạn 4-6 tuổi

          Vận động khéo léo, nhanh nhẹn. Tinh thần phát triển nhanh, tiếng nói phát triển mạnh, trẻ nói đúng ngữ pháp.

          Thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích sinh hoạt tập thể.

          Trẻ có khả năng học tập tiếp thu sự giáo dục.

4.1.3. Sự phát triển hệ thần kinh ở trẻ em (tr50, 51, 52, 53)

a. Sự phát triên của não bộ trẻ em

          Trẻ sơ sinh não bộ có kích thước nhỏ, trọng lượng khoảng 380 – 400g, chiếm 1/8 trọng lượng cơ thể (người lớn 1/40 – 1/50). Trọng lượng của não tăng lên mạnh trong năm đầu tiên. Trẻ 1 tuổi não bộ có trọng lượng tăng gấp đôi, sau đó tiếp tục tăng lên nhanh, 3 tuổi tăng gấp 3 lần.

          Số lượng các tế bào thần kinh tăng lên không đáng kể. Các tế bào lớn lên và phân nhánh, tạo nên các lớp vỏ bán cầu não, đồng thời làm cho diện tích của vỏ bán cầu đại não tăng lên nhanh. Tới 2 tuổi diện tích của vỏ não tăng 2,5 lần. Sự tăng diện tích bề mặt của vỏ não làm xuất hiện thêm nhiều rãnh mới, hình thành thêm các hồi. Quá trình này diễn ra trong suốt thời kỳ khá dài của cuộc đời đứa trẻ, đặc biệt mạnh mẽ đến 5 tuổi. Cũng trong thời gian này có một số vùng mới xuất hiện trên vỏ não: vùng hiểu tiếng nói, vùng hiểu chữ viết.

b. Tủy sống

          Khối lượng và kích thước của tủy sống có những biến đổi rõ rệt theo chiều cao của trẻ. Sau năm đầu, khối lượng của tủy sống tăng gấp đôi: 5 tuổi tăng gấp ba.

4.1.4. Sự phát triển các cơ quan phân tích ở trẻ em (tr84, 91, 93, 94, 95 )

a. Đặc điểm phát triển thị giác của trẻ

          Khả năng thu nhận kích thích ánh sáng:

– Trẻ 5 tuổi: Phân biệt được một số màu trung gian như: xanh lơ, xanh lá cây,…

– Trẻ 6 tuổi: Có thể kể lại những hình ảnh.

          Trẻ càng lớn khả năng thu nhận và phân biệt những kích thích (màu sắc, hình dạng) càng phong phú, điều này phụ thuộc rất nhiều vào sự luyện tập.

b. Đặc điểm phát triển thính giác của trẻ

          Ở những độ tuổi khác nhau , trẻ hiểu sự vật sự việc qua thính giác như sau:

– Trẻ 5 tuổi: Có thể kể lại những sự việc xảy ra.

– Trẻ 6 tuổi: Kể lại sự việc một cách chi tiết hơn.

c. Đặc điểm phát triển xúc giác, vị giác và khứu giác của trẻ

*Đặc điểm phát triển xúc giác

          Bộ phận nhận cảm xúc giác là đầu mút tế bào thần kinh được phân bố trên da và những màng nhầy trải rộng trên toàn cơ thể.

          Cơ quan thụ cảm xúc đóng vai trò quan trọng trong sự nhận thức thế giới xung quanh, là nguồn gốc của những phản xạ, đặc biệt là những phản xạ tự vệ.

          Đối với trẻ em xúc giác có vai trò rất quan trọng và cảm giác xúc giác của trẻ được tăng dần theo lứa tuổi và phụ thuộc vào điều kiện luyện tập tự nhiên hay nhân tạo:

– Trẻ 5 tuổi: phân biệt được hình dạng các vật khác nhau như hình tròn, hình vuông.

– Trẻ 6 tuổi: phân biệt được tính chất bề mặt của vật bằng cách sờ.

*Đặc điểm phát triển khứu giác

Ở trẻ nhỏ cảm giác khứu giác còn kém, chỉ có khả năng phản ứng với những mùi mạnh. Trẻ càng lớn độ nhạy bén với kích thích tăng dần, sau đó tới 6 tuổi dần dần bị giảm sút. Khả năng phân biệt các mùi tăng dần theo lứa tuổi và phụ thuộc vào sự luyện tập.

4.2. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn (chương 9: bài 8. Đặc điểm phát triển tâm lý trẻ tuổi mẫu giáo lớn trong “Giáo trình tâm lý học trẻ em”- tác giả Nguyễn Ánh Tuyết được đăng tải trên trang web www.kilopad.com )

4.2.1. Đặc điểm phát triển nhận thức

Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 – 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn. Thể hiện ở:

– Mức độ phong phú của các kiểu loại

– Mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn.

– Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn.

– Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn.

– Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển.

Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất, đó là tư duy. Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa…

Đặc tính chung của sự phát triển tư duy:

– Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ.

– Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn.

– Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư.

– Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ xã hội…

– Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi.

– Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt, độ mềm dẻo…

Ở trẻ 5 – 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt động mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng dược phát triển ở trẻ. Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan.

4.2.2. Đặc điểm phát triển xúc cảm, tình cảm và ý chí

* Sự phát triển xúc cảm và tình cảm:

Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè.

Đời sống xúc cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 – 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh.

Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: Tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, người lạ… Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống:

– Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ nhiều thành công thất bại củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ.

– Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu. Qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được gia đình, các lớp mẫu giáo xây dựng cho trẻ… Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi người.

– Tình cảm thẩm mỹ: Qua các tiết học nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, tìm hiểu môi trường xung quanh… Cùng với những nhận thức về cái đẹp tự nhiên, hài hoà về bố cục, sắp xếp trong gia đình và lớp học. Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp cái xấu theo chuẩn ( lúc đầu theo chuẩn của bé dần dần phù hợp với đánh giá của những người xung quanh ) xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ phát triển.

* Sự phát triển ý chí:

Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi, được người lớn giao cho nhiều việc nhỏ… Trẻ dần dần đã xác định rõ mục đích của hành động. Trẻ dần dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.

Trẻ muốn chơi trò chơi, trẻ muốn được nghe kể chuyện nhiều hơn nhưng không được cô giáo đáp ứng, phải chuyển trò chơi mà trẻ không thích.

– Tính mục đích càng ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành công việc.

– Tình kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp “công việc” vui chơi và phải quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về là mọi việc phải xong cho mẹ hài lòng.

– Tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần được hình thành ở trẻ.

=> Sự phát triển ý chí mạnh hay yếu tuỳ thuộc phần lớn vào sự giáo dục, các biện pháp giáo dục của cha mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh.

4.2.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ trong các hoạt động

4.2.3.1. Hoạt động học tập

Học tập ở mẫu giáo lớn vẫn là ” Học mà chơi, chơi mà học”. Học theo nghĩa là chơi theo một trình tự hành động gần giống như học, bởi lẽ việc thiết kế ” Học mà chơi” thể hiện:

– Nội dung học vừa nhẹ nhàng, vừa hấp dẫn trẻ, đối tượng của “tiết học ” là những kiến thức rất cụ thể, trực quan sinh động.

– Các trình tự học tập diễn ra giống với tiết học, nhưng không nghiêm ngặt, căng thẳng như tiết học. Nhưng tiết học vẫn đủ các bước lên lớp như: tổ chức lớp, tiến hành tiết dạy ( vào bài, nêu câu hỏi đặt vấn đề, giảng giải khái niệm), kết thúc tiết dạy bằng cách cho trẻ nhắc lại những khái niệm đã học ( củng cố bài)…

– Những chức năng tâm lý diễn ra trong ” tiết học ” giống như tiết học ở lớp một, học sinh phải chú ý nghe cô hướng dẫn, giảng giải, phải sử dụng các hình thức nhớ, các thao tác tư duy diễn ra theo yêu cầu của tiết học. Ý thức được huy động đến mức tối đa để hiểu bài.

– Quan hệ bạn bè trong khi ” Học mà chơi ” cũng được thiết lập gần như quan hệ bạn bè ở lớp một, quan hệ cô và trẻ cũng tương tự như cô giáo và học sinh ở lớp một nghĩa là cô có thể đứng “giảng bài” nhưng cũng có thể ngồi cùng trẻ để giải thích, phân tích chứng minh. Ngôn ngữ của cô vừa mạch lạc, rõ ràng vừa diễn cảm, đặc biệt ở môn truyện, thơ… lại kèm cả tranh, ảnh…

– Các “tiết” học âm nhạc, nghệ thuật tạo hình… đã khơi dậy hứng thú học tập thật sự đối với trẻ.

Tóm lại: Trẻ tập làm quen với các tiết học để lĩnh hội những tri thức đơn giản gần gũi đối với trẻ, nhưng là tiền đề để trẻ vào lớp một. Trẻ dần dần nhận thức được nhiệm vụ học tập, bổn phận, trách nhiệm của học sinh phải làm gì cho cô giáo vui lòng, bạn bè yêu mến.

4.2.3.2. Sự chú ý của trẻ

Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ đã được phát triển, trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ. Trẻ có khả năng chú ý có chủ định từ 37 – 51 phút, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Trẻ có thể phân phối được chú ý vào 2,3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động.

Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển tốt. Sự phân tán chú ý ở trẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng chi phối. Do vậy cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn.

  • Ở giai đoạn này ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ đã chú ý nhiều. Từ âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong óc trẻ. Cần luyện tập các phẩm chất chú ý cho trẻ qua các trò chơi và các tiết học.

4.2.3.3 Phát triển ngôn ngữ

Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ theo các hướng:

– Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói. Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển.

– Các tính chất ngôn ngữ thường gặp ở trẻ 5 – 6 tuổi là:

+ Ngôn ngữ giải thích, trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và cũng thích giải thích cho các bạn.

+ Ngôn ngữ tình huống (hoàn cảnh) do giao tiếp với người xung quanh bằng những thông tin mà trẻ trực tiếp tri giác được trong khung cảnh.

+ Tính mạch lạc rõ ràng: do vốn từ của trẻ chiếm 50% là danh từ, nên câu nói của trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng.

+ Tính địa phương trong ngôn ngữ nền văn hoá của địa phương, cộng đồng thể hiện rõ trong ngôn ngữ của trẻ ( nói ngọng, nói mất dấu …)

+ Tính cá nhân đã bộc lộ rõ qua các sắc thái khác nhau của trẻ, đặc biệt ở chức năng ngôn ngữ biểu cảm

  • Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và các tính chất của ngôn ngữ ở trẻ phụ thuộc phần lớn vào việc hướng dẫn và sự gương mẫu về lời nói của người lớn.

4.2.3.4. Xác định ý thức bản ngã

Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình thành từ cuối tuổi ấu nhi. Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát triển thì ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng. Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành động khác… ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa.

Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào. Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ về người khác còn phụ thuộc nhiều vào thái độ của nó đối với người này. Chẳng hạn mọi đứa trẻ đều đánh giá mẹ mình bao giờ cũng tốt.

Cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để noi gương những người tốt, việc tốt.

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ. Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình.

  • Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình dần dần phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội. Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động có chủ tâm hơn. Nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt.

KẾT LUẬN: Đặc điểm tâm-sinh lý: Giai đoạn trẻ em là giai đoạn xác lập, phân định và hoàn thiện dần các chức năng sinh lý của các cơ quan trong cơ thể. Những bản năng tự nhiên được di truyền theo loài người như: ăn uống, sinh tồn, tự vệ …nếu để các quy luật sinh vật chi phối tự phát mà không được xã hội và người lớn định hướng, chỉ dẫn thì trẻ em khó phát triển bình thường.  Những phẩm chất tâm lý của trẻ em bắt nguồn từ thực tiễn xã hội, trong môi trường sống và trong đó có giáo dục. Ở lứa tuổi này, trẻ em sẽ tiếp thu, lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, lịch sử để hình thành những đặc điểm tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng. Trẻ em chưa có sự phân tích, đánh giá một cách đúng đắn, khách quan về mọi sự việc, hiện tượng xảy ra trong xã hội. Vì vậy, việc hướng dẫn, giúp đỡ các em nhận biết được những yếu tố đúng, sai trong môi trường sống, những việc nên làm và không nên làm…sẽ giúp trẻ em có thái độ ứng xử và hành động đúng đắn đối với mối quan hệ xung quanh.

CHƯƠNG 2

Thực trạng cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên

Khoa Giáo dục mầm non trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương

quận Cầu Giấy, Hà Nội

2. Khái quát chung về trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương

          – Địa bàn: trường CĐSPTW nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội.

          – Đội ngũ giáo viên: có trình độ chuyên môn cao, kĩ năng giảng dạy tốt.

          – Cơ sở vật chất của nhà trường: tốt, đầy đủ.

          – Phương tiện dạy học: hiện đại.

          – Sinh viên thuộc đối tượng của những gia đình trung bình đến khá giả.

          – Số lượng lớp học: nhiều.

          – Số lượng học sinh ở các lớp: còn tồn tại một số lớp học quá đông sinh viên, không phù hợp với các lớp học ngoại ngữ, khiến sinh viên ít có cơ hội rèn luyện kĩ năng.

2.1. Tìm hiểu thực trạng về việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh trong trường CĐSPTW

2.1.1. Về giáo viên

2.1.1.1.Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên

          Nhìn chung, chất lượng dạy học của giáo viên cơ bản đáp ứng được yêu cầu nội dung chương trình giảng dạy.Hầu hết giáo viên đều yêu nghề, nhiệt tình trong công tác cố gắng đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với các đối tượng sinh viên. Liên tiếp trong nhiều năm qua, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương đã tổ chức các đợt tập huấn thay sách giáo khoa cũng như bồi dưỡng phương pháp giảng dạy cho giáo viên Tiếng Anh nên tất cả giáo viên đều được tiếp cận với phương pháp dạy học tích cực, cùng với các thiết bị, đồ dùng dạy học hiện đại đã được trang bị, khả năng dạy học của giáo viên ngày càng được nâng lên về chất.

Song thực tế hiện nay, hiệu quả việc dạy học Tiếng Anh vẫn còn là một vấn đề cần phải tiếp tục suy nghĩ. Tôi xin đưa ra một vài nguyên nhân để tham khảo, trao đổi:

– Giờ dạy của giáo viên: phương pháp giảng dạy của giáo viên vẫn còn mang đậm tính truyền thống chủ yếu dựa vào phấn, bảng, giáo trình.

Giáo viên tuy có nhiều cố gắng trong việc vận dụng phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động của sinh viên, nhưng giáo viên chỉ có thể áp dụng được đối với một số bài, một số tiết và một số bộ phận sinh viên. Nguyên nhân một phần là do nội dung chương trình sách giáo khoa quá tải, sĩ số sinh viên đông trong một lớp, sức học của sinh viên còn hạn chế, một phần do một số giáo viên còn ít chịu khó đầu tư vào các tiết dạy, quan tâm tìm tòi những phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng sinh viên nên chất lượng, hiệu quả dạy học của bộ môn này chưa thật sự như mong muốn. Qua thanh, kiểm tra cho thấy có rất nhiều tiết học sinh viên còn thụ động, giờ học ít sinh động mặc dù giáo viên có quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động học tập để phát huy sự hoạt động tích cực, sáng tạo của học sinh. Nhiều hoạt động dạy học tích cực chỉ mới được sử dụng có tính hình thức, chưa được đầu tư, chuẩn bị đúng mức và triển khai đúng qui trình nên chưa đạt hiệu quả cao.Các đối tượng sinh viên yếu kém chưa được quan tâm đúng mức để tạo điều kiện cho các em vươn lên.

          – Phát phiếu điều tra, tìm hiểu phương pháp họ đã sử dụng rồi (nhiều/ít), đề xuất các phương pháp mới.

          Giáo viên phát phiếu điều tra cho đối tượng sinh viên mình giảng dạy để tìm hiểu những phương pháp sinh viên mong muốn được      giáo viên triển khai để học tập có hiệu quả hơn.

          Số lượng sinh viên tham gia làm phiếu điều tra rất đông, phần lớn các em đều mong muốn có thể “học đi đôi với hành” để khả năng ngoại ngữ được nâng cao, tự tin giao tiếp bằng Tiếng Anh, tăng cơ hội việc làm khi ra trường.

          Tuy nhiên, thực trạng giảng dạy của giáo viên lại không thể áp dụng hoàn toàn các biện pháp đã đề xuất. Nguyên nhân là do tính chất của mỗi bài học không thể áp dụng được phương pháp dự kiến nên phương pháp chủ đạo vẫn là giáo viên thuyết trình cùng bảng đen và phấn trắng. Nguyên nhân khác là do có một số phương pháp mới mà khi triển khai giáo viên không thể hoàn toàn phát huy hết được ưu điểm của nó dẫn đến tình trạng giờ học vẫn theo khuôn khổ như từ trước đến nay và sinh viên không hứng thú trong việc học tập Tiếng Anh.

          – Biện pháp dạy trên lớp, biện pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ học.

          Qua công tác thanh, kiểm tra của nhà trường đều thấy được rằng các giờ dạy trên lớp của giáo viên hầu như đều sử dụng phương pháp thuyết trình cùng bảng đen và phấn trắng, chưa thực sự lấy người học làm trung tâm. Các tiết dạy không sinh động, giáo viên chưa thống nhất các yêu cầu khi học tập bộ môn tiếng Anh ngay từ đầu với sinh viên: sử dụng Tiếng Anh và Tiếng Việt trong giờ học như thế nào cho hợp lí, sinh viên cần chuẩn bị bài soạn trước giờ học như thế nào, thái độ học tập, tài liệu nghiên cứu, cách tự học ở nhà, …

          Mặc dù nhà trường kết hợp với Đoàn Thanh niên tổ chức các cuộc thi, sân chơi Tiếng Anh cho sinh viên nhưng do quá trình rèn luyện của các em chưa thực sự cố gắng nên khối lượng kiến thức không đủ, dẫn đến tình trạng phần đông các em không tự tin tham gia các cuộc thi hay sân chơi này.

2.1.1.2. Kết quả hoạt động dạy Tiếng Anh của giáo viên trường Cao Đẳng Sư phạm Trung Ương

          – Giờ dạy trên lớp: thường xuyên/ thao giảng/ kiểm tra đột xuất/ chuyên đề.

          Giáo viên đi dạy thường xuyên và chuẩn bị bài soạn trước mỗi tiết dạy rất đầy đủ. Dạy học theo đúng phân phối chương trình, nội dung kiểm tra bám sát nội dung giảng dạy. Nội dung chuyên đề được giáo viên đưa ra ngắn gọn và súc tích trong các buổi học và ôn tập. Các tiết thao giảng trên lớp còn ít, chủ yếu là dạy học theo kiểu thuyết trình nên chưa thực sự gây hứng thú cho sinh viên, chưa tạo được môi trường giao tiếp Tiếng Anh như người học mong muốn.

– Xếp loại: nhóm NCKH/ tự đánh giá phân loại

Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ và phân đề tài cho mỗi nhóm nghiên cứu, sau đó nhóm cử đại diện lên trình bày trước lớp để các nhóm khác nhận xét và đánh giá.Giáo viên là người chốt lại các ý chính trong đề tài và đánh giá cho điểm.

Tuy nhiên, thực trạng là sinh viên chưa thực sự hào hứng với mỗi bài tập nghiên cứu khoa học được giao nên các bài báo cáo trước lớp thường chưa gãy gọn và còn rườm rà về mặt nội dung, lan man đến những tiểu tiết nhỏ. Nguyên nhân là do sinh viên chưa chịu tìm hiểu sâu về đề tài được nghiên cứu, khả năng đọc hiểu còn kém, thiếu các kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả, …

2.1.2. Về học sinh

2.1.2.1. Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh

Trong xu thế toàn cầu hóa ngày nay, tầm quan trọng của tiếng Anh không thể phủ nhận và bỏ qua vì nó được dùng phổ biến ở mọi nơi trên thế giới.Cùng với sự phát triển của công nghệ, Y học, Kỹ thuật và Giáo dục… đó là những nơi mà tiếng Anh đóng vai trò quan trọng nhất. 

Đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, Tiếng Anh đã được giảng dạy từ rất sớm cũng như nhiều người trẻ đã nhận thức được tầm quan trọng của nó vì những lý do như tìm được một công việc chất lượng cao, giao tiếp với thế giới bên ngoài, tiếp cận những nguồn khoa học mà mình đang theo đuổi. Đó cũng là lý do tại sao nhiều trường Đại học, Cao đẳng hiện nay tiến hành giảng dạy nhiều nội dung bằng tiếng Anh cũng như quy định chuẩn đầu ra ngoại ngữ (phổ biến là Tiếng Anh) cho sinh viên tốt nghiệp ra trường.

Trong thế giới công nghệ, hầu như tất cả các lĩnh vực đều được hưởng lợi từ sự phát triển của nó.Trong khi đó, Tiếng Anh là ngôn ngữ cơ bản và dễ dàng nhất để lưu trữ cũng như hình thành, miêu tả một chương trình – công cụ giao tiếp đơn giản.Vì vậy, Tiếng Anh hầu hết có trong các hệ thống giáo dục trong tất cả các nước trên thế giới.Chính vì vậy, việc sinh viên trang bị cho mình khả năng tiếng Anh tốt là rất cần thiết, bởi lẽ:

– Tìm được công việc yêu thích liên quan đến chuyên ngành mình được học.

– Có khả năng giao tiếp với thế giới bên ngoài.

– Dễ dàng tìm kiếm thông tin.

Trên quan điểm cá nhân, nhìn chung mỗi người cần một ngôn ngữ chung, trong nhiều năm trước cũng như trong tương lai thì Tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trên toàn thế giới. Vì lý do này, nếu sinh viên muốn bắt kịp xu thế thời đại, sự tiến bộ và sự phát triển của công nghệ, sự đổi mới của thế giới… thì bản thân sinh viên phải biết tiếng Anh cho dù đang ở tuổi nào.

2.1.2.2. Phương pháp sinh viên sử dụng để học tập rèn luyện trong việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh

– Trong các hoạt động nhà trường tổ chức

          + Sinh viên tích cực tham gia các câu lạc bộ Tiếng Anh.

+ Tham gia các sân chơi, cuộc thi Tiếng Anh dành cho sinh viên

Bên nhà trường chuẩn bị cho các hoạt động ngoại khóa như: các sân chơi, cuộc thi Tiếng Anh, … rất đa dạng với nhiều nội dung kiến thức thực tế phù hợp với sinh viên. Tuy nhiên do phần đông sinh viên nhận thức không đầy đủ, không hứng thú, thiếu sự tự giác, chủ động, sáng tạo nên buổi sinh hoạt ngoại khóa không đạt được hiệu quả như mong muốn.

Ngoài ra việc xem xét đến cấp độ học Tiếng Anh, lứa tuổi, hoàn cảnh xuất thân, vùng miền, tâm lí, sở thích hay những vấn đề mà sinh viên quan tâm như tình bạn, tình yêu … để xây dựng nội dung chương trình sao cho phù hợp chưa được nhà trường thực sự quan tâm nênsinh viên không cảm thấy tham gia các hoạt động này như được học mà chơi, chơi mà học.

Chưa thực sự tạo điều kiện cho sinh viên tham gia bàn bạc về nội dung, hình thức tổ chức trước khi tham gia hoạt động, dẫn đến tình trạng sinh viên không phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo, tự giác và không có hứng thú để tham gia.

Công tác vận động, tuyên truyền, thuyết phục và kích thích lòng nhiệt tình cùng sự say mê tham gia hoạt động trong sing viên, đề cao trách nhiệm và quyền lợi của sinh viên khi tham gia các hoạt động ngoại khóa, nhằm thu hút, lôi cuốn cả những sinh viên vốn ngại tham gia hay những sinh viên yếu kém chưa bao giờ dám phát biểu trước đám đông chưa được tăng cường.

          – Trong các giờ học chính quy

          + Luôn học và xem lại các nhóm từ, các cấu trúc câu, không phải các từ riêng biệt.

          + Không học ngữ pháp.

          + Học nghe trước.

          + Học chậm, học sâu.

          + Học qua các câu chuyện ngắn.

          + Chỉ sử dụng Tiếng Anh hội thoại và tài liệu thực thụ.

          + Nghe và trả lời không phải nghe và nhắc lại.

          Đây là 7 phương pháp mà sinh viên hướng đến để có thể cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong các giờ học Tiếng Anh trên lớp hầu hết sinh viên chỉ chú trọng vào mặt ngữ pháp, ghi chép từ đầu tiết học tới cuối tiết học dẫn đến khả năng nghe, nói của sinh viên là rất yếu kém. Chính bởi vậy, sinh viên không thể tự tin giao tiếp với người khác bằng tiếng Anh được do kĩ năng nghe, nói của họ đã không được rèn luyện ngay từ đầu.

2.1.2.3. Kết quả học tập rèn luyện của sinh viên trường CĐSPTW

Bảng 1: Kết quả kiểm tra đầu vào của sinh viên mới vào trường

TT Xếp loại kết quả kì thi Số lượng Tỉ lệ (%)
1 Xuất sắc Điểm 9 đến 10 1 0,39
2 Giỏi Điểm 8 đến cận 9 27 10,55
3 Khá Điểm 7 đến cận 8 70 27,34
4 Trung bình khá Điểm 6 đến cận 7 50 19,53
5 Trung bình Điểm 5 đến cận 6 39 15,23
6 Yếu Điểm 4 đến cận 5 28 10,94
7 Kém Điểm dưới 4 41 16,01
  Tổng số SV 256 100,000

Biểu đổ 1: Khảo sát đầu vào môn Tiếng Anh của sinh viên mới vào trường

Số liệu của bảng 1 và biểu đồ 1 cho ta thấy hầu như không có sinh viên đạt loại xuất sắc, tức là chỉ có 1 (0,39%) sinh viên có kết quả khảo sát đầu vào thuộc loại này trong khi đó lại có gần 27% sinh viên có trình độ yếu và kém, trong đó có hơn 16% sinh viên thuộc loại kém về tiếng Anh khi vào học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương.

Bảng 2: Kết quả kiểm tra đầu ra của sinh viên

TT Xếp loại kết quả kì thi Số lượng Tỉ lệ (%)
1 Xuất sắc Điểm 9 đến 10 22 9,87
2 Giỏi Điểm 8 đến cận 9 35 15,7
3 Khá Điểm 7 đến cận 8 47 21,07
4 Trung bình khá Điểm 6 đến cận 7 36 16,14
5 Trung bình Điểm 5 đến cận 6 33 14,8
6 Yếu Điểm 4 đến cận 5 27 12,11
7 Kém Điểm dưới 4 23 10,31
  Tổng số SV 223 100,000

Biểu đổ 2: Khảo sát đầu ra môn Tiếng Anh của sinh viên

Số liệu ở bảng 2 cho ta thấy, số sinh viên đạt kết quả học tập môn tiếng Anh loại xuất sắc, giỏi và khá đã tăng lên 46,64% so với kết quả kiểm tra đầu vào 38,284%; số sinh viên có kết quả loại trung bình khá và trung bình là 30,94%, so với kết quả đầu vào 34,76% là không biến động bao nhiêu; sinh viên xếp loại yếu, kém 44 của đầu ra là 22,42% so với đầu vào là 26,95% có giảm nhưng không đáng kể (4,53%).

2.2. Nguyên nhân

2.2.1.Nguyên nhân chủ quan

Trong quá trình học tập tại trường, nhiều sinh viên đã cố gắng để vươn lên từ loại giỏi lên loại xuất sắc, từ loại khá lên loại giỏi, từ loại trung bình lên loại khá. Tuy nhiên chỉ có một số rất ít từ loại yếu vươn lên loại trung bình, số học sinh xếp loại yếu kém không giảm được bao nhiêu. Nguyên nhân của tồn tại này có thể thấy rõ là do trình độ đầu vào môn tiếng Anh của sinh viên không đồng đều mà những sinh viên này phải học trong một lớp học có chương trình như nhau. Những sinh viên yếu, kém ở đầu vào đã không theo kịp những sinh viên khác.

2.2.2.Nguyên nhân khách quan

Như chúng ta đã biết, thời gian là một điều kiện vật chất đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy và học. Để đạt được mục đích cuối cùng hoặc mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn đều phải có một quỹ thời gian tương ứng dùng vào việc luyện tập hình thành các kỹ năng giao tiếp theo yêu cầu mục tiêu. Những tài liệu khoa học và thực nghiệm về tâm lý ngôn ngữ học đã chỉ ra rằng để có được khả năng đọc hiểu sách báo khoa học thường thức trong hoàn cảnh học tập ở trường phổ thông bình thường thì phải đảm bảo cho mỗi học sinh được tới lớp học khoảng 700 tiết dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Như vậy, nếu có 7 năm học thì phải phân bố số tiết như sau:

700 tiết/ 33 tuần = 3 tiết/ tuần trong một năm học.

Chương trình cải cách giáo dục hiện nay đã quy định cách phân bố thời gian trên đây cho môn ngoại ngữ ở các trường phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12.

Như thế có nghĩa là muốn đạt được mục tiêu môn học thì bắt buộc phải dạy ngoại ngữ từ lớp 6 đến lớp 12 để có đủ thời gian cần thiết cho việc hình thành những kỹ năng theo yêu cầu. Nếu chỉ tiến hành dạy – học ngoại ngữ trong 3 – 4 năm ở phổ thông cơ sở hoặc trong vòng 3 năm ở phổ thông trung học rồi bỏ dở không được tiếp tục học cho đủ 700 tiết, thì những kết quả của những năm học đó sẽ không được củng cố và phát huy, do đó sẽ nhanh chóng rơi rụng mất, vì những kỹ năng ban đầu ấy chưa đủ để sử dụng vào hoạt động giao tiếp (dù chỉ để đọc sách).

Hiện nay, ở nước ta, việc dạy ngoại ngữ cho học sinh ở các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học chưa được đồng đều và rộng khắp. Ở một số vùng, học sinh còn chưa được học môn ngoại ngữ mà trong các kỳ thi tốt nghiệp lại có môn thi ngoại ngữ, do đó Bộ giáo dục và Đào tạo đã cho phép những học sinh này được thi một môn học khác để thay thế cho môn ngoại ngữ. Ở một số vùng khác, học sinh có được học môn ngoại ngữ nhưng không được học đủ quỹ thời gian đã phân bố cho chương trình của trường phổ thông cơ sở và phổ thông trang học mà học sinh ở những vùng này lại chỉ được học trong 3 năm học với quỹ thời gian bằng khoảng 1/2 quỹ thời gian theo quy định. Do vậy, đến khi những học sinh này thi tốt nghiệp môn ngoại ngữ ở bậc phổ thông trung học thì Bộ Giáo dục và Đào tạo lại ra đề thi tốt nghiệp riêng cho những học sinh này. Điều này đã gây ra sự bất hợp lý trong việc kiểm tra và đánh giá quá trình dạy -học ngoại ngữ.

Như vậy sự cắt xén tới một nửa thời gian cần thiết kể trên tất yếu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy – học ngoại ngữ. Thực tế cách tổ chức dạy – học ngoại ngữ nửa vời hiện nay ở một số trường phổ thông trung học và phổ thông cơ sở đã không thể mang lại kết quả có ích và thiết thực, vì người học không dùng được ngoại ngữ vào hoạt động thực tiễn. Đó cũng là một lý do khiến cho chương trình ngoại ngữ của cải cách giáo dục phải thực hiện từ lớp 6 liên tục đến hết lớp 12 với tổng số giờ học quy định là 700 tiết. Ngoài ra, việc bắt đầu dạy ngoại ngữ từ lớp 6 còn có một ưu điểm khác nữa là tận dụng được những đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi 11-12 thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng  các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài.

Vì những lý do trên, có thể nói trình độ ban đầu về Tiếng Anh của sinh viên Trường Cao đẳng sư phạm Trung Ương là không đồng đều. Những sinh viên đến từ các trung tâm văn hóa và các vùng lân cận có trình độ ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh) tốt hơn các sinh viên đến từ các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo.Đây là một vấn đề không nhỏ về quản lý mà nhà trường cần giải quyết.

2.3. Kết luận chương 2

Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của của môn Ngoại ngữ, đặc biệt là môn Tiếng Anh trong cuộc sống hiện đại. Nhất là khi mà Đảng và Nhà nước đang xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Muốn giáo dục Việt Nam hội nhập và tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới thì khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc và giao tiếp phải chuyên nghiệp.

Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng dạy và học ngoại ngữ nhận thấy nhiều thách thức đang được đặt ra. Giáo viên và sinh viên đều nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Anh đối với sinh viên khi ra trường. Tuy nhiên, về phía giáo viên chưa áp dụng được các phương pháp dạy học mới mà chỉ dạy theo kiểu truyền thống là giáo viên thuyết trình cùng bảng đen và phấn trắng khiến cho sinh viên không hứng thú học tập, tiết học không đạt hiệu quả cao như mong đợi. Các phương tiện dạy học hỗ trợ kĩ năng nghe, nói cho sinh viên chưa thực sự đầy đủ và chất lượng nên 2 kĩ năng này của sinh viên rất yếu kém. Một phần do lớp học quá đông sinh viên nên khả năng nghe – hiểu những đoạn hội thoại, bài đọc, … không cao. Về phía sinh viên, do kiến thức bị hổng nhiều và không hệ thống, trình độ giữa các sinh viên là không đồng đều nên sự hứng thú học tập của sinh viên rất ít. Đối với việc tham gia các hoạt động ngọai khóa như: các sân chơi, cuộc thi Tiếng Anh, … do nhà trường tổ chức cho sinh viên thường không thu hút được nhiều sinh viên tham gia do sinh viên chưa có kĩ năng giao tiếp, không tự tin, … nên sinh viên không thể tiến bộ được.

CHƯƠNG 3

Một số biện pháp cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh của sinh viên khoa Giáo dục mầm non trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương

3. Cơ sở khoa học các biện pháp đề xuất

          – Căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh của sinh viên.

          Chuẩn đầu ra TOEIC 450 là yêu cầu, mục tiêu mà Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương hướng tới. Khi đó sinh viên hoàn toàn có đủ khả năng và sự tự tin khi giao tiếp hay phỏng vấn việc làm từ bất kì đơn vị nào yêu cầu trình độ Tiếng Anh.

          – Căn cứ vào đặc điểm của sinh viên.

          Sinh viên còn nhiều yếu kém về mặt giao tiếp Tiếng Anh, nhất là kĩ năng nghe nói.

          Thiếu sự tự tin và kĩ năng làm việc nhóm hiệu quả.

          Sinh viên chưa biết cách học Tiếng Anh hiệu quả

3.1. Các biện pháp để nâng cao chất lượng

3.1.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên

•Nội dung

          Giáo viên nhận thức được Tiếng Anh đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên mới ra trường nên việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên rất được giáo viên chú trọng.

•Cách thực hiện

Nhà trường cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo, chuyên đề thường xuyên theo tuần, theo tháng để giáo viên có thể nhận thức được những vấn đề mang tính cấp thiết hiện tại. Từ đó, giáo viên có thể đưa ra được những phương pháp giảng dạy phù hợp, đồng thời kết hợp thực tiễn để tăng ý thức học tập từ phía sinh viên đối với bộ môn Tiếng Anh.

3.1.2. Biện pháp 2: Đầu tư phương tiện dạy học đầy đủ, hỗ trợ cho các hoạt động dạy Tiếng Anh trong nhà trường

•Nội dung

Mác nói rằng: “Công cụ lao động quyết định năng suất lao động” mà phương tiện giảng dạy là công cụ lao động. Không có công cụ tương xứng thì khó mà đổi mới phương pháp dạy học. Với phương tiện kỹ thuật hiện đại, ta có thể rút ngắn được thời gian đào tạo, thúc đẩy sinh viên học tập tích cực hơn, tạo ra năng lực giảng dạy độc đáo, hỗ trợ tốt cho phương pháp dạy và học mới và tăng năng suất của giáo viên. Cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị dạy -học (phòng học đúng tiêu chuẩn, thư viện, phòng thực hành, máy vi tính, đèn chiếu, video …) đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp cho việc truyền đạt kiến thức được nhiều hơn, sinh động hơn và dễ dàng hơn để đảm bảo được nội dung của chương trình đào tạo. Ứng dụng các công nghệ trong giáo dục đào tạo nói chung và trong dạy và học ngoại ngữ nói riêng là hết sức cần thiết và cần được đầu tư xứng đáng để chất lượng giáo dục được cải thiện nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Sử dụng phương tiện giảng dạy hiện đại, giáo viên và sinh viên không tốn thời gian cho việc ghi chép ở trên lớp, sinh viên được phát sẵn đề cương bài giảng nên tiết kiệm được thời gian. Lượng kiến thức đưa ra và tiếp thu được nhiều hơn trong một giờ giảng. Tuy nhiên việc này đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều công sức vào bài giảng và sinh viên phải tự nghiên cứu, đào sâu suy nghĩ về bài giảng trước và sau khi lên lớp. Nhờ vậy thói quen tự học và nghiên cứu khoa học sẽ được hình thành trong sinh viên. Chuẩn hóa cơ sở vật chất của trường học từ giảng đường, phòng thực hành, thư viện cho đến phương tiện và trang thiết bị dạy – học … đóng một vai trò rất quan trọng trong việc dạy và học. Một cơ sở đào tạo với giảng đường chật chội, phòng thực hành lạc hậu và thư viện nghèo nàn thì không thể là nơi đào tạo chất lượng cao được. Hiện nay, cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị dạy – học của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương còn chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo. Vì vậy, nhà trường cần nhanh chóng chuẩn hóa cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị dạy học vì đây là một trong những điều kiện đầu tiên để đổi mới phương pháp dạy – học.Các nhà quản lý của trường cần coi việc đổi mới phương pháp dạy -học là công việc của chính họ chứ không phải chỉ của riêng người dạy và người học.

•Cách thực hiện

Để đáp ứng được yêu cầu về cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị dạy học ở nhà trường nói chung và cho môn học tiếng Anh nói riêng nhà trường cần làm những việc sau:

+ Tăng cường đầu tư cho thư viện về các mặt như: mở rộng phòng đọc, tăng đầu sách, báo đặc biệt là sách, báo Tiếng Anh phù hợp với chuyên ngành đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác thư viện.

+ Có phòng học với đủ bàn, ghế, bảng đúng chuẩn, đủ ánh sáng, âm thanh tốt, đồng thời phải có những trang thiết bị hiện đại, đặc biệt là trang thiết bị dạy -học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng.

+ Xây dựng phòng thực hành tiếng hiện đai có trang bị máy tính với các phần mềm dạy- học Tiếng Anh.

3.1.3. Biện pháp 3: Bồi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Anh cho sinh viên

•Nội dung

          Trước thềm hội nhập khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO, các chuyên gia giảng dạy Tiếng Anh cho rằng môn ngoại ngữ không chỉ còn là môn học chính thức mà là môn học bắt buộc được quan tâm hàng đầu. Việc dạy và học ngoại ngữ không chỉ trang bị cho sinh viên những kiến thức ngữ pháp chắc chắn mà còn tạo cho sinh viên khả năng nghe nói tốt … Đưa nghe, nói, đọc, viết trở thành một trong 4 môn thi chính thức trong kiểm tra ngoại ngữ ở tất cả các trường đại học, cao đẳng. Thường xuyên tổ chức các buổi ngoại khóa, các câu lạc bộ để thu hút đông đảo sinh viên tham gia. Giáo viên cần chủ động tạo điều kiện cho sinh viên giao tiếp với nhau bằng ngoại ngữ.

•Cách thực hiện

– Trước hết giáo viên cần phải đặt ra những nguyên tắc, yêu cầu cụ thể và rõ ràng ngay từ buổi học đầu tiên. Hãy cho sinh viên biết khi nào họ có thể sử dụng Tiếng Việt và khi nào họ bắt buộc phải sử dụng ngoại ngữ.Giáo viên phải là người thực hiện các nguyên tắc này nghiêm túc nhất.

          – Thứ hai, giáo viên phải lựa chọn bài tập hay đề ra yêu cầu học tập phù hợp với trình độ học tập của sinh viên. Đặc biệt trong khi dạy nghe nói, giáo viên phải là người gợi mở cho sinh viên cách triển khai ý tưởng cũng như cách sử dụng từ nối. Giáo viên có thể liệt kê những từ mới có thể được sử dụng trong bài nói hay chuẩn bị những bài tập có liên quan đến chủ đề sinh viên sắp nói. Có như vậy sinh viên mới được chuẩn bị những kiến thức để nói tốt.

          – Thứ ba, việc tạo ra một môi trường tiếng cho sinh viên cũng đóng vai trò quan trọng trong học tập ngoại ngữ. Thay vì sử dụng các mệnh lệnh bằng Tiếng Việt giáo viên hãy sử dụng Tiếng Anh hay giáo viên có thể giải thích các vấn đề đơn giản với sinh viên bằng ngoại ngữ thì hiệu quả học tập sẽ được cải thiện rất nhiều. Giáo viên phải là người rõ hơn ai hết về sinh viên để từ đó đưa ra các nhiệm vụ cụ thể phù hợp với trình độ của sinh viên.Ngoài ra, giáo viên cũng có thể giúp sinh viên học trong một bầu không khí của một lớp học ngoại ngữ bằng cách đặt tên Tiếng Anh cho mỗi sinh viên.

          – Hơn thế, giáo viên cũng cần động viên, khuyến khích sinh viên sử dụng Tiếng Anh trên lớp thay vì sử dụng Tiếng Việt. Đặc biệt trong giờ học nghe nói thì giáo viên cần phát huy tối đa việc sử dụng ngoại ngữ.

          Như vậy để giúp cho sinh viên sử dụng Tiếng Anh trên lớp đòi hỏi sự kiên trì nhẫn nại, đồng cảm cũng như vai trò động viên kịp thời của giáo viên.

3.1.4. Biện pháp 4: Bồi dưỡng các phương pháp dạy học tích cực cho giáo viên

•Nội dung

Đổi mới phương pháp dạy – học là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo.Hoạt động này đòi hỏi ở sự kết hợp giữa người dạy, người học, hoạt động quản lý quá trình đào tạo, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Trong thời gian qua, đội ngũ giáo viên của trường rất tích cực áp dụng phương pháp giảng dạy mới, trường cũng đã hỗ trợ cho giáo viên trong hoạt động này. Tuy nhiên,trong thời đại bùng nổ thông tin của thế giới hiện đại ngày nay, phương pháp dạy và học mới đòi hỏi một số điều kiện tiên quyết để người dạy và người học phát huy nội lực. Vì vậy,việc đổi mới phương pháp dạy – học không phải chỉ của riêng người thầy mà hoạt động này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như yếu tố người học, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy – học, việc quản lý tổ chức quá trình đào tạo, về mục tiêu chương trình, nội dung chương trình, kế hoạch đào tạo, phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá … Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy -học không phải chỉ là nhiệm vụ của người dạy phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần tích cực học tập của người học mà còn là nhiệm vụ nặng nề của các nhà quản lý công tác đào tạo.

•Cách thực hiện

Ngày nay,có nhiều phương pháp dạy – học Tiếng Anh hiệu quả nhưng để áp dụng những phương pháp này vào hoạt động dạy và học Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương cần phải đáp ứng đủ điều kiện để đổi mới phương pháp dạy – học tiếng Anh như đã trình bày ở trên.

Có thể tiến hành nhiều hoạt động khác nhau để đổi mới phương pháp dạy và học Tiếng Anh:

+ Để hoạt động dạy – học tiếng Anh ở trường có hiệu quả, phương pháp dạy – học truyền thống nặng về thuyết trình, với phương tiện giảng dạy chủ yếu là bảng đen và phấn trắng cần phải được thay thế bằng phương pháp giảng dạy hiện đại lấy người học làm trung tâm, hoạt động của người học được ưu tiên khuyến khích để phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực của người học.

+ Để những bài giảng được sinh động và gây hứng thú cho người học, người thầy cần tạo mọi điều kiện để cho người học có thể giao tiếp bằng Tiếng Anh, tạo thói quen và kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ họ đang học.

+ Giáo viên cần đa dạng hóa các loại bài tập thực hành tiếng như cho sinh viên học Tiếng Anh qua con đường đọc truyện, xem phim, kể chuyện bằng Tiếng Anh, đọc tài liệu Tiếng Anh để sinh viên phát huy được tính tích cực của họ trong học tập.

+ Giáo viên cần lên kế hoạch cụ thể để kiểm tra việc học của sinh viên ở trong và ngoài lớp. Giáo viên nên chia sinh viên thành nhóm và kết hợp với nhóm trưởng để tiến hành công việc này.

+ Các nhà quản lý của trường cần thường xuyên đối thoại với sinh viên để kịp thời cùng họ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc học Tiếng Anh.

3.1.5. Biện pháp 5: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tăng cường hiệu quả cho việc học Tiếng Anh

•Nội dung

Thông qua việc tổ chức các sân chơi trí tuệ, thiết thực, hấp dẫn sẽ giúp việc học tập ngoại ngữ cho sinh viên được tốt hơn.

          • Cách thực hiện

Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, việc dạy và học không chỉ bó gọn trong lớp học mà còn phải được tiến hành ngoài lớp học.Hoạt động này nếu được thực hiện sẽ mang lại hiệu quả cao trong học tập. Vì vậy để hoạt động ngoài lớp học có hiệu quả cao, Trường cần chú ý tới những điểm sau:

+ Tăng cường sách báo Tiếng Anh có nội dung phù hợp với chuyên ngành đào tạo của trường và tìm mọi cách để tuyên truyền sách báo Tiếng Anh đến sinh viên để họ có cơ hội tiếp xúc với Tiếng Anh nhiều hơn.

+ Tổ chức các kỳ thi Olympic Tiếng Anh đặc biệt là Tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên để thúc đẩy và động viên họ trong học tập.

+ Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, giao lưu khoa học và tư liệu khoa học bằng Tiếng Anh trong sinh viên.

+ Đẩy mạnh hoạt động của câu lạc bộ Tiếng Anh – là một trong những nơi lý tưởng để người học thực hành tiếng. Bởi vậy, câu lạc bộ Tiếng Anh Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương do Đoàn Thanh niên tổ chức cần chú ý vào các nhóm đối tượng có trình độ khác nhau (trình độ A, B hoặc C) để chuẩn bị nội dung và chương trình phù hợp cho từng nhóm đối tượng chứ không phải chỉ cho một nhóm đối tượng có cùng tình độ tiếng Anh khá như hiện nay. Để câu lạc bộ Tiếng Anh hoạt động có hiệu quả hơn, Đoàn Thanh niên cần cử đoàn viên là giáo viên có trình độ chuyên môn kết hợp với ban chủ nhiệm câu lạc bộ tham gia tổ chức và quản lý câu lạc bộ này.Nếu để cho sinh viên tự điều hành câu lạc bộ như hiện nay thì họ sẽ gặp nhiều khó khăn và hoạt động của câu lạc bộ sẽ ít hiệu quả.

+ Tổ chức hội thảo để sinh viên trao đổi với nhau về phương pháp học tập Tiếng Anh, tuyên truyền để họ hiểu rõ hơn tầm quan trọng của Tiếng Anh trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay và tạo cho họ niềm say mê, hứng thú trong học tập.

+ Giới thiệu danh mục sách tham khảo bằng Tiếng Anh cho sinh viên

+ Các trường có thể tổ chức với các trung tâm Anh ngữ để tổ chức các cuộc thi dành cho sinh viên thông qua phương thức thi Tiếng anh. Qua đó nhằm tạo ra sân chơi giao lưu, bổ ích cho sinh viên, giúp sinh viên tạo thêm niềm hứng thú và khích lệ các em trong việc học Tiếng anh, chuẩn bị sẵn sàng cho xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.

Các trường có thể tổ chức cuộc thi “Rung chuông vàng” phiên bản Tiếng Anh cho sinh viên. Theo đó, thí sinh tham gia sẽ phải trả lời các câu hỏi Tiếng anh ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Khoa học đời sống, Văn học – nghệ thuật, Tài nguyên môi trường, …

          Có thể nói, với việc sử dụng Tiếng Anh trả lời các câu hỏi thú vị sẽ giúp sinh viên phát triển thêm vốn từ. Đồng thời được trang bị đầy đủ thêm những kiến thức bổ ích, lý thú trong nhiều lĩnh vực. Đó cũng sẽ là hành trang quan tọng giúp sinh viên tự tin hơn tỏng quá trình hội nhập trong khu vực và thế giới.

+ Tổ chức hoạt động “Sinh viên tình nguyện Festival”, thông qua hoạt động này, sinh viên sẽ được trực tiếp giao lưu, học hỏi lẫn nhau. Đặc biệt là được giao lưu trực tiếp với du khách trong nước và quốc tế.Đây có thể được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm giúp sinh viên cải thiện trình độ Tiếng Anh nhanh nhất và hiệu quả nhất.

KẾT LUẬN

Trong chương 1, tôi đã đưa ra một cái nhìn tổng quát và chung nhất về đề tài, cụ thể là:

– Vị trí, tầm quan trọng của việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên khoa Giáo dục mầm non.

– Mục tiêu, nhiệm vụ cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên khoa Giáo dục mầm non.

– Chương trình cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên khoa Giáo dục mầm non.

– Đặc điểm, cấu trúc sách giáo khoa, tài liệu cải thiện và nâng cao trình độ cho sinh viên Khoa Giáo dục mầm non.

– Đặc điểm sinh viên khoa Giáo dục mầm non.

– Một số khái niệm công cụ.

– Tiêu chí đánh giá việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên Khoa Giáo dục mầm non.

Trong chương 2, tôi phân tích rõ ràng và cụ thể về thực trạng cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên Khoa Giáo dục mầm non trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương quận Cầu Giấy, Hà Nội, cụ thể là:

– Khái quát chung về trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương.

– Tìm hiểu thực trạng về việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh trong trường CĐSPTW của giáo viên và sinh viên.

– Nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan.

Cuối cùng, trong chương 3 tôi đưa racơ sở khoa học và một số biện pháp cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh của sinh viên Khoa Giáo dục mầm non trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương, cụ thể là:

– Nâng cao nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng của việc cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh cho sinh viên.

– Đầu tư phương tiện dạy học đầy đủ, hỗ trợ cho các hoạt động dạy Tiếng Anh trong nhà trường.

– Bồi dưỡng hứng thú học tập Tiếng Anh cho sinh viên.

– Bồi dưỡng các phương pháp dạy học tích cực cho giáo viên.

– Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tăng cường hiệu quả cho việc học Tiếng Anh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Đề tài “Nâng cao khả năng Tiếng Anh của sinh viên trường Đại học Thương Mại”.

[2]. Hà Thanh Hưng – Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học “Khảo sát tình trạng dạy học và học Tiếng Anh tại Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh để tìm ra giải pháp quản lý hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường” – Thành phố Hồ Chí Minh – 2004.

[3]. Đề tài “Các giải pháp cải thiện và nâng cao trình độ Tiếng Anh trong sinh viên khoa kế toán tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”.

Comments (0)

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Có Thể Bạn Quan Tâm