HomeChưa được phân loại

HỖ TRỢ CHO TRẺ EM TỰ KỶ TẠI CỘNG ĐỒNG

Like Tweet Pin it Share Share Email

 TẬP HUẤN CHO PHỤ HUYNH CÓ CON THAM GIA DỰ ÁN “ HỖ TRỢ CHO TRẺ EM TỰ KỶ TẠI CỘNG ĐỒNG

Ths:

Giáo viên:

QUẢN LÝ HÀNH VI

Quản lý hành vi là 1 phần quan trọng của can thiệp cho trẻ có rối loạn phát triển, bởi đây là nhóm trẻ có rất nhiều hành vi và những vần đề hành vi này gây ảnh hưởng tới quá trình can thiệp cũng như cuộc sống của trẻ và cả gia đình.  Để quản lý tốt hành vi của trẻ, đầu tiên chúng ta cần hiểu rõ về Hành vi và các vấn đề liên quan đến hành vi.

  1. Hành vi
    1.  Khái niệm hành vi

Hành vi là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học và đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Việc hiểu được hành vi của trẻ trong quá trình giáo dục, dạy học sẽ giúp người giáo viên và cha mẹ có được những biện pháp giáo dục thích hợp đối với từng đối tượng trẻ, nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục.

Hành vi có thể được định nghĩa là cách ứng xử/phản ứng của con người trong một hoàn cảnh nhất định được biểu hiện thông qua lời nói, cử chỉ hành động hướng tới đối tượng (con người; đồ vật; con vật…)

Hành vi có thể là bình thường hay bất thường tùy thuộc vào các quy tắc xã hội quy định. Xã hội sẽ luôn cố gắng sửa chữa những hành vi tiêu cực và cố gắng điều chỉnh những hành vi bất thường hướng tới quỹ đạo bình thường có lợi cho bản thân và cho xã hội.

  1.  Khái niệm hành vi có vấn đề

Hành vi có vấn đề là những hành vi gây ra sự phiền toái, khó chịu hoặc gây hại cho trẻ hoặc người khác hoặc sai lệch so với chuẩn mực xã hội. Hành vi có vấn đề gây trở ngại cho việc sinh hoạt, học tập của trẻ, thậm chí nó cô lập trẻ khỏi những người xung quanh.

  1.  Nguyên nhân của hành vi có vấn đề

Nói chung, mọi hành vi của con người đều có nguyên nhân mà chúng ta có thể giải thích được. Mọi hành vi đều có nguyên cớ nào đó và chúng ta phải tìm ra lý do gây nên hành vi đó. Trẻ không phạm lỗi nếu không có lý do chính đáng.

Có hai loại nguyên nhân chính là từ phía môi trường và từ phía sinh học.

  • Những nguyên nhân sinh học bao gồm các rối loạn bên trong cơ thể, tình trạng sức khỏe, tình cảm, suy nghĩ,…(các vấn đề liên quan đến OT)
  • Những nguyên nhân do môi trường tác động: bối cảnh, sự hiện diện của người khác,…(chức năng của hành vi)

Mọi hành vi xuất hiện đều có những chức năng/ mục đích nhất định. Cơ chế làm cho hành vi xuất hiện đã được chứng minh về khoa học:

  1. Những kích thích từ bên trong cơ thể
  2. Có những kích thích thông thường như đói, lạnh, rét, buồn đi vệ sinh, ngứa ngáy, đau bụng… mà đôi khi trẻ không đủ ngôn ngữ để diễn tả.
  3. Một số trẻ có rối loạn về thị giác, thính giác, vị giác, cảm giác. Những rối loạn này khiến trẻ ăn uống bất thường, mắt hiếng hoặc lác, ngứa ngáy dẫn tới cào cấu…

Ví dụ trẻ nhỏ khóc để thể hiện bất cứ nhu cầu gì. Trẻ lớn hơn có thể nói “đau” kể cả khi bị ướt áo, bị ngứa. Những trẻ không có ngôn ngữ có thể cáu giận, cắn tay chân hoặc tấn công người khác.

  • Tìm kiếm sự chú ý từ người khác
  • Con người luôn có nhu cầu được người khác chú ý, đặc biệt rõ nét ở vị thành niên và các “sao mới nổi” hiện nay.
  • Vị thành niên thích ăn mặc lố lăng, đầu tóc quái dị để gây chú ý, thích uống rượu hút thuốc, phóng xe vòng vèo để gây ấn tượng…
  • Tiền đề – Hành vi – Hệ quả (A-B-C)
  • Một yếu tố, kích thích nào đó từ bên ngoài môi trường hoặc bên trong cơ thể sẽ gây ra một hoặc một số hành vi. Ví dụ sự khó chịu trong người có thể khiến trẻ tự kỷ cắn tay, xé quần áo hoặc tấn công người khác.
  • Khi một hành vi diễn ra, tùy theo hệ quả mà trẻ nhận được, hành vi đó có lặp lại hay không. Ví dụ trẻ bị ngã hoặc va nhẹ và khóc, ông bà chạy lại xuýt xoa. Lần sau nếu ngã tiếp thì trẻ sẽ khóc bất kể có đau hay không

Ví dụ về Tiền đề ảnh hưởng đến Hành vi: Ở nhà trẻ được chơi và được chiều chuộng, ngày đầu tiên đi học, cô giáo ép trẻ phải theo quy định của lớp nên trẻ sợ, lần sau chỉ nhìn thấy cổng trường là khóc thét, nôn ọe.

Ví dụ về Hệ quả tác động lên hành vi: Khi trẻ khóc, cả ngày đều “xum xoe” và quất quýt chiều theo mọi điều trẻ muốn, dần dần trẻ học được rằng muốn có gì đó thì chỉ cần khóc.

  • Bắt chước
  • Bắt chước chủ yếu là thông qua quan sát và lặp lại hành vi quan sát được: Trẻ em học cách nói và ứng xử thông qua quan sát cách bạn bè, anh chị, bố mẹ, giáo viên… nói chuyện và ứng xử.
  • Vì vậy, muốn thay đổi hành vi của trẻ, cần thay đổi điều mà trẻ quan sát được.
  • Thiếu kỹ năng
  • Hầu hết mọi hoạt động sống của chúng ta đều cần đến kỹ năng và cần học để có kỹ năng đó.
  • Khi trẻ chưa biết hoặc chưa học được các kỹ năng cần thiết trong những tình huống cụ thể, chúng có thể hành động theo cách mà chúng đã biết. Ví dụ, bị trẻ cùng lớp bắt nạt nhưng không biết tránh đi hay thông báo cho giáo viên mà chỉ biết xông vào đánh lại.
  • Thói quen
  • Khi một hành vi đã diễn ra trong gia đình từ lâu và hành vi đó được coi là bình thường hoặc chấp nhận được, cho đến một giai đoạn hoặc lứa tuổi nào đó, hành vi đó trở thành có vấn đề hoặc không thể chấp nhận được.
  • Ví dụ việc trẻ ăn uống nhiều và được bố mẹ cho ăn bất cứ thứ gì mà trẻ muốn, cho đến lúc trẻ thừa cân và béo phì, lúc đó hành vi ăn uống nhiều trở thành có vấn đề.

Vậy sau khi đã hiểu được về hành vi và các vấn đề liên  quan đến hành vi,  để chúng ta có thể quản lý hành vi tốt cho trẻ, chúng ta cần có mối quan hệ tốt đẹp với trẻ, hiểu các vấn đề cảm giác của trẻ để có những biện pháp điều chỉnh phù hợp

2. Thiết lập mối quan hệ với trẻ (phần nội dung đã được tập huấn trong buổi cuả cô xuân nên chúng ta không nói  lại )

Mối quan hệ xã hội là những mối quan hệ giữa người với người, đều có một mục đích,  có hoạch định và có những mối liên hệ với nhau.  Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội. Mối quan hệ này thường được lặp đi lặp lại, tạo thành một mối quan hệ bền vững, ổn định và đạt được những nhu cầu, lợi ích của con người như:

Niềm vui: Mối quan hệ xã hội giúp chúng ta thoát khỏi cuộc sống nhàm chán khi chúng ta có vòng tròn bạn bè – những người đánh giá cao về bạn – các tương tác

xã hội trở nên rất thú vị. Đó là cách tương tác với người khác làm tăng thêm sự thú vị và niềm vui cho cuộc sống của bạn.

Sự thỏa mãn: Con người là những sinh vật xã hội và tất cả đều có nhu cầu tương tác với người khác, và xây dựng mối quan hệ xã hội. Nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ bền vững, chất lượng cho dù nhỏ hay lớn đều đóng góp quan trọng đến hạnh phúc và sự thỏa  mãn.

Sự phát triển: Toàn bộ sự phát triển và thành công đang chịu ảnh hưởng lớn bởi những người trong vòng tròn xã hội của bạn.Những người suy nghĩ tích cực hơn, luôn nhằm tới mục đích cao và luôn có những điều hữu ích mà bạn có thể học hỏi. Cuối cùng, điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển cá nhân của bạn, sự nghiệp của bạn.

Ví dụ: Hai người ngẫu nhiên cùng nhau đợi xe bus đến và dù có chào hỏi, trao đổi trò chuyện lần đó, nhưng lần sau gặp lại không nhận ra nhau, không tiếp tục chào hỏi, trò chuyện với nhau thì giữa họ chưa phải mối quan hệ xã hội. Ngược lại, nếu lần sau họ gặp lại, trò chuyện vui vẻ, tạo thành một mối quan hệ bền vững như thành bạn bè, bạn thân, chia sẻ cho nhau mọi công việc, cuộc sống, cùng nhau phát triển và đều học hỏi những điều hữu ích từ đối phương thì đó chính là mối quan hệ xã hội.

*Xây dựng và thiết lập quan hệ với trẻ

Tuy nhiên, để xây dựng và tạo mối quan hệ ban đầu với trẻ là vấn đề khó, đối với trẻ tự kỷ lại càng khó hơn rất nhiều. Vì thế, chúng ta cần phải có phương pháp làm thế nào để có thể tiếp cận được với trẻ tự kỷ.

* Khi tiếp cận trẻ, chúng ta có thể gặp một trong những tình huống sau:

– Trẻ chơi đồ chơi một mình, không quan tâm đến bất cứ hoạt động xung quanh.

– Trẻ khóc hoặc lăn ra ăn vạ.

– Trẻ chạy nhảy liên tục, khó dừng lại hoạt động.

– Trẻ không hứng thú bất cứ hoạt động/ đồ chơi/ đồ vật/ đồ ăn gì.

– Trẻ nhút nhát, e dè, xấu hổ, không tự tin.

– Trẻ nói linh tinh, nói những điều gì đó mà không thể hiểu được hoặc không dịch được nghĩa điều trẻ muốn nói.

– Trẻ im lặng và cứ đi vẩn vơ trong phòng.

* Vậy phải làm gì?

Mỗi một người sẽ có cách để có thể tiếp cận trẻ khác nhau. Tuy nhiên, đối với trẻ tự kỷ, chúng ta cần phải tạo một mối quan hệ ban đầu tích cực, hãy khiến cho trẻ nhìn bạn như một người mang lại cho chúng những điều tốt đẹp và khoảng thời gian tuyệt vời, hãy khiến cho trẻ lúc nào nhìn thấy bạn là muốn được chơi với bạn, chạy về phía bạn thay vì rời xa bạn.

Một số chiến lược để tạo mối quan hệ với trẻ như:

– Lắng nghe trẻ nói,giao tiếp bằng mắt vơi trẻ, tham gia vào các hoạt động chơi tương tác một – một.

– Có thể ôm ấp – vỗ về trẻ, giữ trẻ trong lòng để trẻ cảm thấy được an toàn.

– Có thể tiếp xúc dựa trên nhu cầu và sở thích của trẻ như chơi cùng trẻ những trò chơi mà trẻ muốn chơi hay là lấy cho trẻ những thứ trẻ thích thú để gây thiện cảm.

– Cách tiếp xúc bằng cách chờ đợi trẻ đến với mình, chờ đợi trẻ đưa ra những yêu cầu hay đặt câu hỏi, tôn trọng trẻ, chấp nhận trẻ, hỏi những câu hỏi giao tiếp thông thường: Con tên gì? con mấy tuổi? con học trường nào?…

– Có thể tiếp xúc rất hào hứng và nhiệt tình: vui vẻ khi gặp trẻ, đưa cho trẻ những đồ chơi/ đồ ăn trẻ thích để gây sự chú ý từ trẻ.

– Bên cạnh đó, chúng ta phải có giọng nói nhẹ nhàng, sự bình tĩnh, sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, ngắn gọn, câu từ dứt khoát…

Tuy nhiên, để có sự tiếp xúc ban đầu tốt, vui vẻ nó còn tùy thuộc vào sự linh hoạt của người tiếp cận, tùy thuộc vào khả năng, phong cách và nắm bắt trẻ của từng người.

* Cần phải trang bị gì để có sự tiếp xúc một cách tốt nhất?

Hiểu về trẻ

Cần phải nắm bắt được các dạng của rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ, đặc điểm đặc trưng, nguyên nhân gây nên, hậu quả, phương pháp can thiệp, khả năng ngôn ngữ của trẻ, mức độ nhạy cảm (dễ bị tổn thương), trẻ thuộc hướng nội – hướng ngoại, trẻ hay trầm buồn – hay cáu giận, những điều trẻ thích – không thích… Việc hiểu rõ đối tượng trẻ đó là điều kiện thuận lợi khi tiếp cận. Tránh trường hợp không tìm hiểu trước dẫn đến khi tiếp cận thì ngỡ ngàng, bị động, cảm thấy thiếu tự tin hoặc nản chí, bỏ cuộc…

Hiểu về bản thân mình

+ Mình có phải là người nói nhiều?

+ Mình có phải người nóng tính?

+ Mình có phải người kiên nhẫn?

+ Mình có phải người dứt khoát?

Tính cách, mà cụ thể là cách ứng xử của người lớn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và hiệu quả khi dạy trẻ. Ý thức được những điểm mạnh và yếu của bản thân khi ứng xử với trẻ sẽ giúp gây thiện cảm và uy tín với trẻ nhiều hơn.

Tham gia lớp học giao tiếp với trẻ

Khi giao tiếp với trẻ tự kỷ khác rất nhiều so với giao tiếp cùng những trẻ bình thường khác. Cần sử dụng nhiều kỹ năng để giúp trẻ học, đương đầu với thực tế và thích nghi với những hoàn cảnh đặc biệt. Nhiều công việc được coi là dễ dàng với mọi người thì lại vô cùng khó khăn đối với trẻ . Khi tham gia hội thảo, học giao tiếp với trẻ , bạn sẽ chuẩn bị được nhiều kỹ năng để sẵn sàng giúp trẻ hòa nhập hơn với cộng đồng.

– Nhớ rằng mỗi trẻ là khác nhau

Dù đã được trang bị kiến thức về trẻ , bạn vẫn nên chuẩn bị tâm lý sẵn sàng thích nghi với trẻ nhé! Có thể với trẻ này, sự giao tiếp bằng ánh mắt, nụ cười tạo nên hiệu quả nhưng trẻ khác lại cần bạn nói chuyện và cùng hát cơ. 

– Đừng vội vàng đánh giá

Với những trẻ này, không nên quá nôn nóng bắt trẻ phải thân thiết và làm theo ý của mình ngay. Và cũng đừng vội vàng đánh giá là trẻ không có khả năng học tập và nhận thức. Cần tạo cho trẻ sự tin tưởng, trẻ sẽ thể hiện bản thân.

– Đừng kỳ thị trẻ

Bản thân mỗi trẻ đều có nhu cầu được yêu thương, chú ý. Tuỳ theo mức độ của trẻ, bạn sẽ thấy trẻ như đang phớt lờ mình hay là hoà nhã hơn, nhưng một điều quan trọng: đừng kì thị và xa lánh trẻ.

– Trẻ có nhịp độ riêng

Cố gắng hiểu trẻ và biết được tốc độ tiếp thu của trẻ để có sự điều chỉnh hợp lý. Hãy luôn nhớ để trẻ tự đi theo nhịp độ riêng của chúng.

– Không kỳ vọng quá mức

Bạn đừng nản lòng khi trẻ không trả lời bạn hoặc có những câu trả lời thiếu chủ ngữ. Nhiều trẻ dù biết bạn hỏi gì nhưng lại lựa chọn sự im lặng. Bạn hỏi một câu hỏi và mong chờ một phản ứng chi tiết từ trẻ – đó là điều không thể

Nhiều triệu chứng không “cho phép” trẻ thể hiện bằng lời nói đầy đủ ngay cả khi chúng mong muốn. Cách tốt nhất để tìm hiểu trẻ là hài lòng với câu trả lời của trẻ, đừng gượng ép trẻ trả lời theo ý bạn.

– Sử dụng từ ngắn gọn khi hỏi

Một trong những khía cạnh với trẻ khi nói chuyện là sử dụng từ ngữ ngắn gọn, trọng tâm. Thêm từ dài dòng hoặc nói khó hiểu, bạn sẽ không đạt được mục đích truyền tải thông tin tới trẻ.

– Kiên nhẫn

Bạn cần kiên nhẫn, ít thất vọng và căng thẳng khi tiếp xúc với trẻ tự kỷ. Cần học cách kiểm soát cảm xúc. Trẻ dù vẫn vô cùng nhạy cảm. Trẻ sẽ nhận ra rất nhanh nếu thấy bạn tỏ ra mất kiên nhẫn, từ đó trẻ từ chối giao tiếp với bạn.

2. Quản lý hành vi

2.1.Khái niệm

Quản lý hành vi/chiến lược quản lý hành vi là việc sử dụng nhiều kĩ thuật để làm tăng những hành vi phù hợp, giảm những hành vi không phù hợp và dạy những hành vi mới. Những cách tiếp cận can thiệp năng động này bao gồm quan sát, đo lường, lượng giá những hành vi đích (hành vi mục tiêu) và xác định các yếu tố tiền hành vi/môi trường và những kết quả/hệ quả duy trì hành vi đích.

Tại sao cần quản lý hành vi?

  • Để trẻ cải thiện các hành vi tốt
  • Để trẻ giảm bớt những hành vi không mong muốn
  • Để trẻ biết ứng xử một cách phù hợp khi ra bên ngoài và khi lớn lên
  • Nếu bố mẹ không kiểm soát được trẻ từ lúc nhỏ, nhiều khả năng lớn lên sẽ không quản lý được con mình

2.2. Những nội dung chính khi thực hiện quản lý hành vi

1.Cần liệt kê tất cả những hành vi không phù hợp của trẻ.

Vd: A có hành vi khóc ăn vạ không làm theo yêu cầu của người lớn, tự đánh vào đầu khi không vừa ý, nói linh tinh, hay chạy nhảy, ném đồ, cắn cấu người khác và cố tình nôn trớ.

2. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hành vi ở trẻ

* Xem hành vi nào do nguyên nhân thực thể, không phải do trẻ cố ý gây ra. Chúng ta không can thiệp hành vi này mà phải đáp ứng trẻ, giúp trẻ thoát khỏi cảm xúc lúc đó.

Vd: A bị đói nhưng không biết diễn đạt như thế nào cho người lớn hiểu là con đói, con muốn ăn, nên A khóc ăn vạ. Lúc này, chúng ta cần hiểu con và lấy đồ ăn (bánh, sữa) cho con ăn => giúp cho con no bụng và vui vẻ trở lại

*Xem nguyên nhân nào do trẻ cố tình gây ra và cần phải can thiệp hành vi đó

Vd: ném đồ, cắn cấu người khác, khóc ăn vạ, tự vào đầu khi không vừa ý,…

* Xem hành vi nào là gốc gây ra các hành vi khác, vì các hành vi trẻ gây ra đều có mối liên kết với nhau

Vd: A không muốn nhặt đồ chơi cất đúng nơi quy định => gây ra hành vi khóc ăn vạ, tự đánh vào đầu,  ném đồ, cào cấu người khác.

Chúng ta cần xử lý được hành vi không muốn nhặt đồ chơi cất đúng nơi quy định thì sẽ giúp hết hành vi khóc ăn vạ, tự đánh vào đầu, ném đồ, cào cấu người khác.

* Xem xét hành vi nào nên can thiệp trước, hành vi nào can thiệp sau. Hành vi nào của trẻ ảnh hưởng đến bản thân trẻ và đến người khác nhiều nhất thì cần can thiệp hành vi đó trước

* Mỗi một thời gian, chỉ can thiệp 1 hành vi nhất định. Không can thiệp tất cả các hành vi cùng 1 lúc.

Vd: Hành vi khóc ăn vạ khi chúng ta yêu cầu con làm 1 việc gì đó,  trong 1 tuần chúng ta chỉ can thiệp hành vi đó thì ngày nào cũng chỉ làm một hành vi đó giúp con không khóc ăn vạ khi cô yêu cầu con làm. và thực hiện trong khoảng thời gian nhất định là từ mấy giờ đến mấy giờ. Ngoài thời gian thỏa thuận ra, con có hành vi đó hoặc hành vi khác thì mặc kệ, chúng ta không can thiệp.

* Cần thỏa thuận trước với con về hành vi cần can thiệp, nói rõ về sự không phù hợp của hành vi đó, phần thưởng và hình phạt khi thực hiện hành vi đó.

Vd: A có hành vi ném đồ. Chúng ta cần thỏa thuận với con rằng: Trong giờ tô màu, con không được ném đồ. Nếu con không ném đồ, cô sẽ cho con 1 gói bim bim khi con tô hết 1 hình tròn. Còn nếu  con ném đồ, cô sẽ phạt con không được ăn bim bim.

3. Liệt kê những thứ con thích và ghét ra

 Những thứ con thích sẽ làm phần thưởng, những thứ con ghét sẽ làm hình phạt. Vì đây chính là chìa khóa để quản lý hành vi cho con.

4. Chú ý lời nói và thái độ của mình khi thực hiện hành vi

Đôi khi mục tiêu của trẻ là làm cho người lớn tức điên lên để được chú ý, nếu chúng làm trò gì đó khiến cho người lớn nổi giận hoặc quát tháo thì chúng đã đạt được mục đích. Nói chung khi xử lý hành vi của trẻ, cần nghiêm túc, giữ thái độ trung tính và giọng nói nhẹ nhàng nhưng nói ít, cụ thể, dứt khoát, rõ ràng và thống nhất trong tất cả các lần thực hiện quản lý hành vi sẽ hiệu quả hơn.

5. Cách tốt nhất để quản lý hành vi cho con là không phải bảo con đừng làm hành vi đó mà phải giúp trẻ có hành vi khác phù hợp hơn.

Vd: A có hành vi khóc ăn vạ, chúng ta không được quát con  là “ im ngay” hoặc “cấm khóc” mà khi đó phải hướng cho con vào hoạt động khác mà con thích như hát, đọc thơ hoặc trò chuyện với con. Khi con hoàn thành hoạt động đó, cô khen thưởng con luôn

6. Luôn nghĩ đến hành vi tích cực để khen con và lờ đi những hành vi không phù hợp.Vì khi cha mẹ chỉ chú ý đến hành vi tiêu cực thì con chỉ làm những hành vi tiêu cực, còn khi chúng ta hướng con đến những hành vi tích cực thì con sẽ học được những hành vi tích cực.

7. Tìm hiểu kỹ xem hành vi đó xảy ra vào thời gian nào?

– Trước khi xảy ra hành vi đó, thì điều gì đã xảy ra với con? (có sự kiện gì?)

Vd:  Hành vi khóc ăn vạ: trước đó cô yêu cầu con nhặt đồ chơi cất lên tủ sau khi con chơi chán, đi ra chỗ khác. Con không muốn cất đồ chơi nên con khóc ăn vạ

– Sau khi con có hành vi đó, chúng ta có thái độ như thế nào với con?

Vd: con không muốn nhặt đồ chơi cất lên tủ, con khóc ăn vạ. Cô đáp ứng con và nhặt đồ chơi cất lên tủ giúp con hay cô vẫn tiếp tục yêu cầu con nhặt đồ chơi và sẽ có phần thưởng sau khi con nhặt xong.

– Sau khi có thái độ như vậy, con sẽ có thái độ như thế nào?

Vd: + Nếu cô đáp ứng con, nhặt đồ chơi giúp con thì lần sau cứ mỗi lần chơi đồ chơi xong, cô yêu cầu con nhặt cất đồ chơi thì con lại tiếp tục khóc ăn vạ.

         + Nếu cô tiếp tục yêu cầu con nhặt đồ chơi cất lên tủ và có phần thưởng là 1 gói bim bim. thì con sẽ hiểu được, mỗi lần con nhặt đồ chơi  cất lên tủ sau khi chơi xong thì con sẽ được ăn bim bim. Không nhặt đồ chơi thì sẽ không được ăn bim bim.

=> Tất cả mọi thỏa thuận giũa người lớn và trẻ phải rõ ràng, cụ thể, thống nhất và ngay lập tức.

2.3. Các quan điểm, nguyên tắc quản lý hành vi.

  • Các mục tiêu thay đổi hành vi nên cụ thể và được định nghĩa rõ ràng.
  • Mọi người tham vào chương trình quản lý hành vi cần phải nhất quán phương châm hành động.
  • Quản lý hành vi cần có thời gian và sự kiên trì hành động của những người tham gia.
  • Hầu hết các hành vi thường gắn với kích thích cụ thể.
  • Hầu hết các hành vi có thể dạy được, thay đổi được và điều chỉnh được.
  • Chương trình thay đổi hành vi nên được cá nhân hóa
  • Chương trình thay đổi hành vi nên là “ở đây – bây giờ
  • Chương trình thay đổi hành vi nên tập trung vào môi trường của trẻ.

3. Các kỹ thuật can thiệp hành vi

3.1. Phớt lờ (được áp dụng nhiều nhất cho trẻ có hành vi)

Khi cô phớt lờ trẻ, không phải cô sẽ lờ đi hoặc đứng im với những hành vi sai của trẻ. Thay vào đó, cô giảm sự chú ý của cô dành cho trẻ cũng như những hành vi của chúng. Sự phớt lờ sẽ khiến trẻ không thực hiện hành vi mà trẻ làm để gây sự chú ý của cô như tức giận, rên rỉ và ngắt lời cô. Khi phớt lờ, cô không nhìn trẻ hoặc không nói chuyện với chúng. Mục đích là để giảm những hành vi cô không hài lòng hoặc muốn trẻ dừng hành vi đó lại.

Tại sao nên phớt lờ hành vi của con?

Việc phớt lờ có thể giúp giảm đi những hành vi sai lệch ở trẻ. Hãy nhớ rằng trẻ rất muốn nhận được sự chú ý của cô. Sự chú ý được thể hiện qua việc cô la hét hay mắng mỏ rất có ý nghĩa với trẻ. Điều này đặc biệt đúng khi cô không dành sự chú ý cho trẻ trước khi trẻ thực hiện hành vi sai trái. Việc dành sự chú ý cho trẻ khi chúng đang tức giận, có thể vô tình khuyến khích những hành vi đó và tăng cơ hội lặp lại cho hành vi đó. Khi cô phớt lờ một vài hành vi sai lệch, bạn sẽ giảm khả năng trẻ tái diễn lại hành vi đó. vd: Trẻ cố tình la hét khi cô yêu cầu con đi lấy cho cô cái cốc, cô nên phớt lờ đi hành vi la hét của con mà vẫn tiếp tục yêu cầu con đi lấy cho cô cái cốc. Cứ lặp đi lặp lại như thế, trẻ sẽ hiểu được rằng: dù mình có la hét thì cô vẫn cứ tiếp tục yêu cầu mình phải đi lấy cái cốc và không chú ý đến mình và từ đó trẻ sẽ không còn la hét nữa.

Những hành vi nào nên phớt lờ?

Sự phớt lờ thường tỏ ra hiệu quả nhất đối với những hành vi gây bực mình của trẻ như la hét,  khóc ăn vạ, chống đối và cáu kỉnh. Những hành vi sai lệch này thường được dùng để gây sự chú ý. Nếu cô kiên quyết phớt lờ những hành vi này, trẻ sẽ dừng lại.

Đôi khi trẻ hành động sai không vì mục đích gây sự chú ý mà khiến chúng gặp nguy hiểm. Cô không nên phớt lờ những hành vi phá phách và gây nguy hiểm. Ví dụ, nếu trẻ làm đau bản thân, làm đau người khác, hay phá phách đồ đạc, chúng không nên bị phớt lờ. Những hành vi này cần được chấm dứt ngay lập tức. Các quy tắc hay hình phạt kỷ luật như cách ly và để trẻ ở một mình (khoảng lặng) nên được áp dụng.

Cách thực hiện biện pháp phớt lờ:

•Chọn một hành vi cụ thể cô muốn phớt lờ. Hành vi nào đang gây ra vấn đề nghiêm trọng nhất? Bắt đầu phớt lờ hành vi đó thay vì phản ứng lại như cô vẫn thường làm.

 •Khi trẻ thực hiện hành vi đó, hãy ngừng mọi sự chú ý tới trẻ. Hãy im lặng. Làm cho trẻ nghĩ rằng cô không thể nhìn hay nghe chúng. cô có thể quay lưng lại để trẻ không thấy cô đang nhìn chúng. Cho dù vậy, cô vẫn thấy được các hành vi tốt của trẻ. Kể cả khi áp dụng phương pháp phớt lờ, sự an toàn của trẻ vẫn là trên hết. Đừng để trẻ một mình trừ khi cô chắc chắn chúng được an toàn

 •Khi áp dụng phương pháp phớt lờ:

 +Không đụng chạm hoặc bế bồng trẻ

 +Không nói chuyện với trẻ

 +Không nhìn trẻ

 •Phớt lờ hành vi đó đến cùng, Phớt lờ bất cứ khi nào hành vi đó diễn ra. Kiên quyết và phớt lờ mỗi khi hành vi diễn ra là rất quan trọng trong việc giảm hoặc dừng hẳn hành vi sai lệch.

 •Phớt lờ hành vi trong toàn bộ thời gian nó diễn ra. Một khi cô bắt đầu phớt lờ một hành vi, hãy cố gắng giữ sự phớt lờ đó và không từ bỏ.

Phớt lờ một cách hời hợt không khiến trẻ hiểu điều cô muốn trẻ làm là gì. Đợi đến khi hành vi sai lệch được dừng hẳn và nhanh chóng dành cho trẻ sự chú ý. Sử dụng sự chú ý tích cực để khen ngợi chúng và nói với trẻ điều cô hài lòng với việc trẻ làm, thậm chí cả khi trẻ chỉ ngồi im lặng. Khi khen ngợi một hành vi đúng, hãy khen nhiệt tình và cụ thể. Ví dụ, có thể nói “bạn A rất là giỏi, A biết giúp cô đi lấy cốc này” và có thể thưởng cho trẻ đồ trẻ thích như bim bim, bánh, …

3.2. Chỉ dẫn hiệu quả

Khi nào thì sử dụng chỉ dẫn hiệu quả? Cần dùng chỉ dẫn 1 cách hạn chế, dùng khi cô thấy cần thiết, quan trọng và khi cô mong muốn thấy công việc hoàn thiện

Cách thức làm chỉ dẫn trở nên hiệu quả:

+ Đưa ra các yêu cầu cụ thể:lần 1: dùng lời

                                             lần 2: có hành động (chỉ)

                                             lần 3: cầm tay con chỉ hoặc lấy

– Yêu cầu:+ phải cụ thể, rõ ràng và ngắn gọn, không đưa ra chỉ dẫn mơ hồ

                  + Không sai ngắt quãng: việc này chưa xong lại sang việc khác

                   + không đưa ra 1 loạt yêu cầu

                   + cô và con cùng làm

3.3. Thưởng và phạt (thưởng quy đổi)

– Thưởng con bằng cách cho con những cái con thích. Phạt con bằng cách bắt con làm những cái con ghét. => Vì đây chính là chìa khóa để quản lý hành vi cho trẻ

– GV phải nói với trẻ1 cách dứt khoát, thống nhất: được làm gì và không được làm gì

– Phần thưởng có thể là:

+ Tinh thần: ôm, bế, vuốt má, ồ zê, …

+ Vật chất: đồ ăn (bim bim, bánh, kẹo, nước ngọt), đồ chơi…

+ Hoạt động: đi chơi, thể dục thể thao, thổi bong bóng…

=> phần thưởng tình thần tốt hơn vật chất, hoạt động vì nó làm tăng sự giao tiếp với người khác.

– Có 7 nguyên tắc để sử dụng phần thưởng đạt hiệu quả cao:

+ sự tức thời: đưa ra vật củng cố cho trẻ ngay sau khi đã đạt yêu cầu của cô.

+ kích cỡ: Vật củng cố phải đủ thu hút, kích thích sự ham muốn của trẻ, là những cái trẻ thật sự thích

+ những vật củng cố cần mang tính bất ngờ.

+ Sự bão hòa: vật củng cố không nên sử dụng quá nhiều mà cần phải thay đổi liên tục .

+ Đặt giới hạn vừa sức với trẻ, trẻ có thể làm được. Không nên đặt giới hạn quá cao

+ Phần thưởng không được quá đắt, phải thực tế, trong tầm tay của mình, mình có thể đảm bảo cho trẻ được. Vd: 1 gói bim bim là đủ, chứ không thể thưởng cho trẻ 1 cái ô tô, hoặc đi siêu thị, đi chơi.

+ Khi thưởng phải nhiệt tình, cụ thể và rõ ràng.  Vd: Hôm nay bạn Huy không khóc nhè, học bài ngoan nên cô Hiền khen bạn Huy và thưởng cho bạn Huy 1 gói bim bim.

Có 6 điều cần chú ý về phần thưởng:

+ Không dùng phần thưởng như là của hối lộ. Nó có thể phát huy tác dụng trong 1 thời gian ngắn nhưng nó sẽ khiên cô và trẻ trở nên phụ thuộc vào nó và không đạt hiệu quả trong quá trình dạy trẻ

+ Không quá tham yêu cầu trẻ làm nhiều hành vi mới được thưởng

+ Những vật củng cố cần được phân nhóm. 1 vài cái bình thường và có những cái trẻ đặc biệt thích.

+ Những vật củng cô sơ cấp như thức ăn, đồ uống, đồ chơi trẻ thích nên ghép đôi với những phần thưởng xã hội như mỉm cười, ồ zê, vỗ tay, âu yếm…

+ Tất cả vật củng cố nên mờ dần theo thời gian

+  Không thay đổi phần thưởng hoặc phần thưởng không lớn hơn sau khi trẻ đã có hành vi tốt hơn, không còn hành vi không phù hợp hoặc có thể thay thế bằng hành vi khác

– Hình phạt có hiệu quả nhất khi:

+ Hình phạt chỉ được đưa ra khi hành vi không phù hợp xảy ra

+ khi mỗi lần hành vi không phù hợp xảy ra, gv phải ngay lập tực đưa ra hình phạt , không trì hoãn.

+ Những hành vi không phù hợp không được có mối liên hệ với những củng cố tích cực, vd: sự chú ý từ những người khác, thoát khỏi những tình huống khó chịu…

+ Những hành vi phù hợp phải được củng cố tích cực

+ Nếu những hình phạt nhẹ không hiệu quả thì những hình phạt nghiêm khắc hơn cần được dùng

3.4. Dạy hành vi thay thế

–  Nhiều khi trẻ có hành vi không phù hợp hay không đúng mực vì không biết hành vi đúng (thiếu kỹ năng). Ví dụ trẻ la hét hay khóc để được uống nước thay vì nói “con uống nước”/ “cô ơi cho con uống nước” hay chỉ vào cốc nước đối với trẻ không nói được.

–  Ngay khi hành vi không phù hợp diễn ra (la hét để được uống nước), lập tức nói “con uống nước” hoặc cầm tay trẻ chỉ vào cốc nước (với trẻ không nói được).

3.5. Trẻ không nhận được điều mà trẻ thích (Mất quyền lợi)

– Sự chú ý của giáo viên, bố mẹ hoặc những người chăm sóc khác (ông bà, người giúp việc, anh chị) là điều mọi trẻ đều thích.

– Những thứ khác mà trẻ thích như đồ ăn (kẹo, bim bim, nước ngọt…), đồ chơi.

3.6. Thời gian tách biệt (Khoảng lặng)

– Hình thức ít cực đoan nhất của kĩ thuật thời gian tách biệt như là đưa trẻ có hành vi cư xử không phù hợp ra khỏi những hoạt động hoặc đồ vật trẻ thích trong khoảng thời gian ngắn. Hình thức kỉ luật nghiêm ngặt nhất của kĩ thuật này là tách biệt ra hẳn môi trường ngoài lớp học. Trẻ không thể nhìn vào lớp học cũng như không thể tương tác được với các bạn khác.

– Được dùng trong trường hợp cô và trò trong tình trạng căng thẳng, ức chế hoặc trẻ không vâng lời cô => làm giảm hành vi tiêu cực ở trẻ và giáo viên có cơ hội để điều chỉnh lại cảm xúc của mình.

– Lưu ý khi sử dụng hình phạt thời gian tách biệt:

+ Hãy giải thích cho trẻ toàn bộ nội quy trước khi bắt đầu hình phạt thời gian tách biệt.

+ Hãy chuẩn bị môi trường thực hiện hình phạt thời gian tách biệt phải sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng và thoáng mát. Đảm bảo chắc chắn rằng nơi đó không quá tối, không quá trật trội, nguy hiểm và không thông thoáng.

+ Hãy lựa chọn một nơi hoặc vị trí để thực hiện hình phạt phải dễ gây nhàm chán và ít sự kích thích hơn lớp học.

+ Sử dụng tập hợp những yêu cầu có cấu trúc bằng lời nói với trẻ như là dạng thức mệnh lệnh chính xác cần phải thực thi.

+ Đừng liên tục đe dọa trẻ bằng hình phạt thời gian tách biệt.

+ Phải giữ bình tĩnh và không nói chuyện trong khi trẻ đang được đưa đến khu vực phạt.

+ Hãy đặt trẻ vào nơi thực thi hình phạt và thiết lập thời gian hình phạt mà bạn có thể kiểm soát.

+ Trước khi trẻ được tha thì ngay ở thời điểm kết thúc khoảng thời gian phạt, hãy yêu cầu trẻ giữ yên lặng trong 30 giây.

+ Sử dụng khoảng thời gian ngắn (chẳng hạn, 5 – 10 phút)

+ Không cho phép trẻ tìm cách né tránh thực hiện yêu cầu hoặc không làm bài tập bởi lý do bị phạt trước đó. Mà phải yêu cầu trẻ hoàn thành những yêu cầu dẫn tới hình phạt hoặc bài tập đã bị bỏ lỡ. 

4. Một số lưu ý trong quản lý hành vi

Nên Không nên
Định nghĩa hành vi sai lệch bằng chức năng của nó Định nghĩa hành vi sai lệch bằng việc mô tả trông nó như thế nào
Đánh giá hành vi một cách trực tiếp để xác định chức năng của nó Hỏi: “Tại sao con làm như vậy?”
Khi phương pháp tiếp cận không hiệu quả, thử cách khác Khi phương pháp tiếp cận không hiệu quả, vẫn cố gắng dùng
Coi hành vi sai lệch là do trẻ thiếu kỹ năng Coi hành vi của trẻ là cố ý
Có kế hoạch phù hợp cho thời điểm chuyển tiếp Thiếu việc lên kế hoạch cho thời điểm chuyển tiếp
Phớt lờ một cách thông minh Lờ đi tất cả hoặc không phớt lờ gì cả
Làm theo các nguyên tắc của thời gian tách biệt hiệu quả Sử dụng quá mức hoặc sử dụng sai thời gian tách biệt
Có những mong đợi rõ ràng, có tính củng cố một cách nhất quán Những mong đợi và hệ quả không nhất quán
Có sự tham gia của phụ huynh, học sinh và những người khác trong nỗ lực quản lý Xem chúng ta như là những người quản lý lớp duy nhất
Sử dụng bài học như công cụ quản lý hành vi Thiếu sự liên kết giữa bài học và hành vi
Nhìn nhận hành vi sai của học sinh một cách chuyên nghiệp Nhìn nhận hành vi của học sinh theo cách quá cá nhân

Thông điệp

  • Bản chất của can thiệp hành vi là làm thay đổi môi trường xung quanh và thay đổi cách phản ứng của những người xung quanh với trẻ để làm thay đổi hành vi của trẻ.
  • Thay đổi hành vi con người là việc khó khăn và lâu dài.
  • Đôi khi duy  trì tình trạng hành vi không kém đi hoặc kém đi không nhiều cũng là thành công.
  • Không phải mọi phương pháp thay đổi hành vi đều có tác dụng như nhau với mọi trẻ hoặc có hiệu quả vào mọi thời điểm.
  • Cần sự thống nhất của tất cả các giáo viên, phụ huynh trước bất cứ một kế hoạch hành vi nào.

5. Bảng mẫu theo dõi hành vi của trẻ

Comments (0)

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Có Thể Bạn Quan Tâm